Chỉ trong vòng một ngày mùng 8 tháng 3 năm Mậu Tý 1288 tức ngày (9/4/1288), toàn bộ Nguyên Mông bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ”.

Bạch Đằng, dòng sông đã đi vào ký ức mỗi người dân Việt Nam như một ký ức ngời sáng về truyền thống chống giặc ngoại xâm, giữ nước, niềm tự hào của dân tộc. Trên dòng sông này, đã ba lần, quân dân Đại Việt chiến thắng oanh liệt những đoàn quân xâm lược hùng mạnh và hung hãn. 
Lần thứ nhất, năm 938, Ngô Vương Quyền cho cắm cọc trên sông Bạch Đằng đại phá quân Nam Hán, bắt sống tướng giặc Hoằng Thao, kết thúc thời kỳ mất nước kéo dài trên 10 thế kỷ, mở ra kỷ nguyên mới, độc lập dân tộc của đất nước ta.

Lần thứ hai, năm 981 nhà Tống kéo quân sang xâm lược nước ta. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đã chỉ huy quân dân ta cắm cọc trên sông Bạch Đằng, đại phá thủy quân nhà Tống, đập tan âm mưu xâm lược, giữ yên bờ cõi.
Lần thứ ba, vào năm 1288, sau hai lần xâm lược nước ta bị thất bại, quân Nguyên Mông tiến vào xâm lược nước ta một lần nữa trên cả hai đường thủy, bộ. Năm mươi vạn quân Nguyên Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan chỉ huy theo đường Quảng Tây vào Lộc Bình cùng cánh quân của Trịnh Bằng Phi tiến vào nước ta theo đường Chi Lăng. Đại quân do Áo Lỗ Xích chỉ huy vào vùng Tây Bắc xuôi theo sông Hồng xuống Bạch Hạc. Đạo quân thủy do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy và một cánh do Đại tướng Trương Văn Hổ chỉ huy với 70 thuyền lương chở 70 vạn hộc lương và khí giới theo đường biển vào sông Bạch Đằng tiến về Vạn Kiếp.
Quân và dân nhà Trần rút lui chiến lược, tiến hành chiến tranh du kích. Đặc biệt, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị tướng Trần Khánh Dư đánh chìm ở Cửa Lục.

Sau khi đánh vào Thăng Long, nhưng chỉ còn thành không nhà trống, thoát Hoan và Ô Mã Nhi đuổi theo vua Trần, tuy nhiên lương thực và khí giới không còn bèn hội các cánh quân ở Vạn Kiếp để tính kế rút lui. Quân Nguyên Mông rút lui bằng hai đường. Thoát Hoan, Áo Lỗ Xích, A Ba Xích rút quân theo đường bộ qua Lạng Sơn về nước. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc đem hơn 600 chiến thuyền và hơn 4 vạn quân rút theo đường sông Bạch Đằng, trên bờ có cánh quân của trịnh Bằng Phi và Đại Truật hộ tống ra biển để về nước. 
Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Vương đã chọn đạo binh thuyền của Ô Mã Nhi làm mục tiêu tiêu diệt, đập tan mưu đồ tái xâm lăng của kẻ thù.
Tháng 2 âm lịch năm Mậu Tý (1288), Trần Hưng Đạo cho quân lính, dân binh chặt gỗ lim, gỗ táu ở vùng rừng núi An Hưng cắm các bãi cọc Đồng Vạn Muối, bãi cọc Yên Giang… ở đoạn gần họng sông Bạch Đằng làm trận địa cọc. Các bãi cọc kết hợp với các dải đá ngầm ghềnh sông Chanh, ghềnh Cốc tạo thành một phòng tuyến bịt chặt họng sông Bạch Đằng, không cho quân Nguyên Mông rút chạy ra biển để về nước.

Trần Hưng Đạo cho quân mai phục hai bên bờ sông, chuẩn bị các bè mảng bằng tre chở cỏ gianh khô dễ cháy bố trí ở hai bên bờ sông, đồng thời chọn địa điểm cây Giêng cổ thụ (ở Đền Công) và cây Quếch ở bến đò Rừng làm nơi phát hỏa hiệu lệnh cho quân sỹ mai phục hai bên sông nhất tề tiến công giặc. Trần Hưng Đạo cho quân chặn đánh cánh quân bộ của Trình Bằng Phi (đi hộ tống đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi) ở Đông Triều, quân ta đánh sập cầu ở Đông Triều buộc Trình Bằng Phi và Đại Truật phải cho kị binh quay lại đường bộ rút về nước cùng Thoát Hoan.

Ngày 7 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi rút đến khu vực Kinh Môn, chúng vào sông Giá, qua sông Bạch Đằng rút nhanh ra biển khi triều cường bắt đầu rút. Nhưng Trần Hưng Đạo cho quân mai phục chặn đánh hai bên bờ sông Giá thuộc khu vực Lưu Kỳ, Lưu Kiếm buộc chúng phải quay lại sông Đá Bạc để vào sông Bạch Đằng. Trận huyết chiến lớn đã xảy ra ở khu vực Lưu Kỳ, Lưu Kiếm, buộc đoàn thuyền chiến của chúng phải rút theo đường sông Đá Bạc. Mờ sáng mồng 8 tháng 3 âm lịch năm 1288, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi tới sông Bạch Đằng. Khi thuyền giặc tới khu vực dãy núi Tràng Kênh, Trần Hưng Đạo cho đốt lửa làm hiệu. Bè mảng chở cỏ xăng được đốt cháy nhất loạt từ hai bên bờ lao ra tạo thành một trận hỏa công trên sông Bạch Đằng. Sau đó quân sỹ nhà Trần trên thuyền nhỏ mai phục hai bên bờ lao ra. Hai vua nhà Trần dẫn quân đến tiếp ứng. Quân ta tung lực lượng đánh lớn. Khi nước triều rút, các bãi cọc gỗ và ghềnh đá ngang qua sông Bạch Đằng, sông Chanh, sông Rút nhô lên ngăn thuyền giặc. Thuyền giặc bị dồn lại, bốc cháy và chìm xuống sông vô số. Ta bắt sống Ô Mã Nhi, Phạm Nhan, Tích Lệ Cơ Ngọc, Phàn Tiếp. Như vậy, chỉ trong vòng một ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch năm 1288, hơn 600 chiến thuyền và hơn 4 vạn quân Nguyên Mông bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ.

Chiến thắng Bạch Đằng 1288 là trận thủy chiến chiến lược lớn nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Chiến thắng Bạch Đằng kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ ba, đồng thời cũng là một thất bại thảm trọng nhất của đế quốc Nguyên Mông, làm sụp đổ tham vọng tái xâm lăng nước Đại Việt.

Chiến thắng Bạch Đằng 1288 đã trở thành biểu tượng cho truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và là biểu tượng của quân và dân huyện Yên Hưng xưa, nay là thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.