Nhà văn Võ Thị Xuân Hà từng khẳng định: “Trẻ thì phải có tính khai phá, thử nghiệm” (Thể thao và Văn hóa, 16-10-2009). Với quan niệm này, ngay từ những năm đầu khi bước vào nghiệp cầm bút, chị đã cố gắng tạo cho sáng tác của mình một giọng điệu riêng với sự thể hiện phong phú, hấp dẫn mà nổi bật là chất giọng trữ tình và chất giọng mỉa mai, giễu nhại.

    Trong tác phẩm của Xuân Hà, đặc biệt là ở giai đoạn sáng tác thứ nhất của chị, tính từ tập Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà (xuất bản năm 2002) về trước, trữ tình là giọng điệu chủ đạo và có sự thể hiện đa dạng: có khi là giọng ấm áp, đôn hậu, có lúc trữ tình sâu lắng, rồi đau đớn, xót xa, hoặc day dứt, nghẹn ngào. Giọng điệu ấy thể hiện tập trung ở các yếu tố cơ bản như khung cảnh nghệ thuật, hình tượng nhân vật, cốt truyện và ngôn ngữ nghệ thuật.

    Xuân Hà gốc xứ Huế, nhưng do hoàn cảnh gia đình mà từ rất nhỏ chị đã phải xa quê. Tuy vậy, hình ảnh quê hương trong sáng tác của chị không lúc nào phai nhạt. Đọc văn chị, ta rất hay gặp những hình ảnh đặc trưng của xứ sở này như dòng sông Hương thơ mộng, diễm tình “trôi êm đềm xanh thẳm, dịu dàng như một tà áo dài” (Bí ẩn một dòng sông), núi Ngự Bình uy nghi, cầu Trường Tiền cổ kính, rồi những khu phố cổ đặc trưng, những xóm vạn chài trên dòng Hương… Và mỗi khi nhắc đến quê hương, dù trực tiếp hay gián tiếp, nhà văn cũng đều thể hiện tình cảm tha thiết với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đó có khi là niềm tự hào về vẻ đẹp cùng sự đa dạng, độc đáo của thiên nhiên nơi đây: “Sông, biển, rừng, đồi, lăng tẩm, mưa nguồn chớp bể (…). Thích chi có nấy” (Trôi trong sương mù) hay vẻ đẹp thơ mộng đến huyền ảo của thành Huế: “Đứng ở xa nhìn về phía chiếc cầu lớn, từng lớp sương tắm nắng ban mai nom như những tấm voan hồng dính hàng hàng lớp lớp những hạt kim sa, dành điểm trang cho lâu đài của các tiên nữ. Vào buổi hoàng hôn, sương mù nhuốm màu lam tím. Sương nhiều đến nỗi mọi thứ đều bồng bềnh mờ ảo” (Sương mù trên thành phố). Có lúc chị thấy nhớ đến khắc khoải: “Cả giọng hò Huế. Cả tiếng cười của lũ trẻ vạn chài. Cả bóng hình thuyền rồng ngậm nước. Những tà áo dài đẹp dịu dàng” (Trôi trong sương mù). Không nặng lòng một cách sâu sắc với quê hương chắc hẳn nữ văn sĩ không thể có những dòng văn thấm đẫm xúc cảm như vậy.

     Các nhân vật, đặc biệt là nhân vật chính trong truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà, phần nhiều là nữ. Có lẽ vì vậy mà chị chủ yếu xây dựng kiểu nhân vật tâm trạng chứ không phải nhân vật hành động. Ở nhiều trường hợp, nhà văn thường đặt nhân vật vào trong bầu không khí trữ tình để bộc lộ tâm trạng và tính cách. Đó có thể là những khung cảnh tĩnh lặng như một cái quán cà phê nhỏ để nữ nhân vật trong Cà phê yêu dấu lánh xa cái phồn tạp của cuộc sống phố thị, để chờ đợi, khát khao một người đàn ông mà chị chỉ gặp một lần và cũng chưa hề nói một lời nào; một cái hồ về đêm vắng người với không khí se lạnh để người phụ nữ suy ngẫm về cuộc đời mình và từ đó lại thấy trỗi dậy nỗi khát khao tưởng đã đào sâu chôn chặt trong lòng về một người đàn ông làm chỗ dựa cho mình trong cuộc đời (Dưới cơn gió thoảng); hay một căn phòng nhỏ trên một khu tập thể để người nữ nghệ sĩ đàn trompet gậm nhấm nỗi cô đơn, nhưng cũng là một cách để chị Đi qua mùa đông giá lạnh của cuộc đời. Cũng có khi đó là các mối quan hệ mang tính truyền thống của dân tộc: tình vợ chồng, tình anh em, tình thầy trò, tình yêu nam nữ, tình đồng hương… Những mối quan hệ gắn bó ấy đã mang lại một bầu không khí trữ tình thật sâu sắc cho mỗi tác phẩm của Xuân Hà. Đó là những nhà giáo giàu lòng nhân hậu và đức hi sinh vì sự nghiệp trồng người cao quý (Nghề giáo, Mùa nước lên, Bông hồng duy nhất, Ngọc trong tim, Cổ tích cho tuổi học trò). Là người chồng nặng lòng với người vợ đã khuất vốn xinh đẹp, nhân hậu, tảo tần (Chuyện của con gái người hát rong). Là người vợ quanh năm đầu tắt mặt tối nhưng vẫn yêu chồng thương con, yêu những thửa ruộng, cây lúa của mình (Lúa hát). Hay những xúc cảm thánh thiện của hai người đồng hương tình cờ gặp nhau nơi nước Mĩ xa xôi (Trôi trong sương mù). Tất cả những điều này khiến cho những thiên truyện của Xuân Hà có một không khí riêng thật khó lẫn.

    Không chỉ thể hiện qua khung cảnh và cách xây dựng nhân vật, trong truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà, giọng điệu trữ tình còn thể hiện một cách rất đậm nét trong cách xây dựng cốt truyện. Như trên đã nói, Xuân Hà rất ít xây dựng kiểu nhân vật hành động mà chủ yếu là kiểu nhân vật tâm trạng, cũng vì vậy mà cốt truyện trong rất nhiều sáng tác của chị không thiên về miêu tả các biến cố, sự kiện xảy đến với nhân vật. Mà nếu có, chúng chỉ đóng vai trò làm nền cho họ bộc lộ tâm trạng mà thôi. Vì thế, kiểu cốt truyện tâm lí (Người đàn bà và những con rối, Dưới cơn gió thoảng, Cà phê yêu dấu, Ka – chi đậu trên mái nhà…) và kiểu cốt truyện mà yếu tố hồi cố đóng vai trò chủ đạo (Bí ẩn một dòng sông, Bầy hươu nhảy múa, Chuyện của con gái người hát rong, Ngôi sao chiếu mệnh…) rất phổ biến trong sáng tác của chị. Nói cách khác, rất nhiều truyện ngắn của Xuân Hà là kiểu truyện ngắn trữ tình như của Thạch Lam.

    Hệ thống ngôn từ trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà cũng rất tự nhiên và giàu tính biểu cảm. Chất chứa trong đó là những nỗi niềm, những suy tư về cuộc đời và con người với những biểu hiện thật phong phú, đa dạng. Có khi là giọng ấm áp, đôn hậu khi nói về tình thầy trò (Nghề giáo). Có khi là giọng trữ tình sâu lắng chất chứa biết bao tâm sự của một người đang rất cô đơn (Cà phê yêu dấu). Nhưng có lúc lại chất chứa sự đau đớn, xót xa khi nghĩ về nỗi khổ của những người dân ở quê hương quanh năm đầu tắt mặt tối nhưng cuộc sống vẫn cứ bần hàn, cực khổ bởi “Sau đó là lụt, là nỗi đau khổ tuyệt vọng phải cúng cho thủy thần chí ít mỗi mùa lụt một mạng người, là nỗi khắc khoải đợi chờ màu xanh cây cỏ” (Trôi trong sương mù), hay sự bất hạnh của kiếp người sinh ra làm kiếp đàn bà trong cái xã hội vẫn nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ dù đã bước sang thế kỉ XXI (Giấc mơ). Và có lúc còn là sự day dứt đến nghẹn ngào khi nghĩ về những sai lầm của quá khứ để rồi không còn cơ hội làm lại: “Tôi bỗng nhận ra tình yêu của tôi, tình yêu của chúng ta thảy có nghĩa lí gì với nỗi đau khốn cùng kia. Tôi hiểu rằng với tôi, thời gian đã mất, rằng tôi chẳng thể nào vui sống cùng em. Tôi đã mất em từ lâu rồi” (Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào).

     Một điểm thú vị nữa ở hệ thống ngôn từ nghệ thuật của Xuân Hà là việc chị rất hay đưa những lời thơ, lời hát xen vào lời trần thuật trong sáng tác của mình. Chắc hẳn phải là người rất yêu thơ và nhạc thì nữ văn sĩ mới hiểu rõ được thế mạnh của hai thể loại trên trong việc tạo chất trữ tình cho tác phẩm. Xen vào những dòng trần thuật, những câu thơ, lời hát sẽ có tác dụng tạo ra một cái nền, một không gian đặc biệt để nhân vật bộc lộ tâm trạng và để nhà văn thể hiện cảm xúc của mình. Đọc Gió ngừng thổi, mưa ngừng rơi, ta sẽ cảm nhận rõ hơn chất trữ tình của tác phẩm và đặc biệt là tâm trạng nuối tiếc của nhân vật “tôi” cho một tình yêu đẹp đến mức thánh thiện nay đã mất qua mấy câu thơ của Trần Tử Ngang: “Ai người trước đã qua/Ai người sau chưa đến/Ngẫm trời đất vô cùng/Một mình tuôn dòng lệ”. Với Cà phê yêu dấu, người đọc thấu hiểu hơn sự đồng cảm của tác giả với nỗi niềm đơn côi của nhân vật trong không gian bé nhỏ là chiếc quán cà phê của mình qua mấy lời của nhạc phẩm Cà phê một mình (Ngọc Lễ): “Sáng nay cà phê một mình. Trời chợt lạnh như mùa đông…”. Đọc Chuyện của con gái người hát rong, có lẽ rất nhiều độc giả sẽ được đắm chìm vào không khí buồn buồn của câu chuyện, tâm trạng nhiều khi da diết, đắng cay của nhân vật qua những lời bài hát được đưa vào thật khéo léo xen với việc miêu tả tâm trạng nhân vật: “đến lượt tui nước mắt mờ cầm đàn. Tui cầm lòng để tha thiết khúc dang dở: “Ân tình kia bỗng như khói mờ, ngày tháng xưa nay còn đâu. Bao mộng xưa nay như giấc mơ, ôi giấc mơ tan trong ngỡ ngàng” (Mộng đẹp ngày xưa – Nhạc Hoa). Không chỉ ở các sáng tác trên mà theo thống kê của người viết, chỉ riêng bốn tập truyện ngắn quan trọng nhất của Xuân Hà trong những năm gần đây đã có ít nhất 24/80 truyện có đặc điểm này. Điều đó góp phần tạo cho văn chị có một nét riêng khó lẫn với các cây bút khác hiện nay.

     Bên cạnh giọng điệu trữ tình, đọc văn của Xuân Hà, ta thấy không ít truyện có chất giọng mỉa mai, giễu nhại với sự thể hiện đa dạng của nhà văn qua cách miêu tả bối cảnh; cách xây dựng chân dung nhân vật; các chi tiết, tình huống trào phúng; giọng điệu và ngôn từ trần thuật.

    Xuân Hà sinh ra ở Huế, nhưng cho đến bây giờ, phần lớn cuộc đời của nhà văn gắn bó với Hà Nội. Có thể nói đây chính là quê hương thứ hai của chị. Viết về Hà Nội, nhà văn không giấu diếm tình cảm tha thiết với vùng đất này qua cách thể hiện thật đa dạng. Đó có thể là những dòng văn đậm chất trữ tình khi nói về nét thơ mộng của mảnh đất ngàn năm văn hiến. Nhưng Hà Nội vẫn còn đó không ít những tồn tại. Vì yêu nó nên Xuân Hà không thể không đề cập. Ở một số tác phẩm, chị thẳng thắn nói lên sự nhốn nháo, tạp nham nhiều khi đến thành kệch cỡm của một đô thị vốn phát triển có phần tự phát hơn là được quy hoạch, quản lí rõ ràng. Người Hà Nội vốn rất tự hào về nguồn gốc “Người Tràng An” đầy văn hóa, thanh lịch trong cách nói năng, ứng xử... Nhưng nếu ta vào các quán bia vốn bây giờ ở đâu cũng có, mà ở những nơi đó thì: “đông nghẹt đàn ông cởi trần đang ầm ào thứ âm thanh rỗng tuếch. Hai phần ba đám đàn ông đó đang tung hô chiến tích bất cần con mụ vợ ở nhà. Bốn phần năm đám đàn ông đang hau háu nhìn theo mấy cái lưng hở của gái mười tám đôi mươi bất cần đời đi trên hè phố” (Đô hội). Cùng với rất nhiều hiện tượng phản cảm mà các phương tiện truyền thông phản ánh gần đây, đọc những dòng văn này chúng ta mới hiểu vì sao chính quyền Hà Nội đang có kế hoạch xây dựng tiêu chí “Người Hà Nội thanh lịch, văn minh”!

     Tạo dựng những tình huống, chi tiết hài hước cũng là một cách Xuân Hà hay sử dụng để phản ánh cuộc sống và qua đó bộc lộ quan điểm của mình. Đọc Đàn sẻ ri bay ngang rừng, ta không khỏi bật cười nhưng cũng thấy thật chua chát với những dòng văn sau đây: “Anh Nẫm tình nguyện vào bộ đội năm 17 tuổi. Cả cái làng ven phố nhà chồng tôi đến tiễn đưa, ca ngợi. Về sau này bố chồng tôi buôn lậu đủ thứ, vẫn được tha vì có con xung phong đi lính. Chẳng ai ngờ vì ông bố tàn bạo mà anh Nẫm phải tìm cách đi khỏi nhà bằng được”. Và nếu Đàn sẻ ri bay ngang rừng nói về những con người hi sinh cho đất nước thì Đô hội lại đề cập đến những người sẵn sàng rời bỏ quê hương để đến những nơi hứa hẹn sẽ có một cuộc sống sung sướng, nhàn hạ. Nhưng sung sướng, hạnh phúc chưa thấy đâu mà với Nhan đó lại là bi kịch. Không một xu dính túi vì bị tên người tình đốn mạt lừa hết tiền, Nhan phải vào nhà thương làm phúc để bỏ đi cái thai với hắn. Để sống cô đã phải chấp nhận về ở và phục vụ nhu cầu sinh lí cho gã Henry vừa lùn vừa xấu. Thế nhưng hài hước hết chỗ nói là nhân vật vẫn tin rằng mình sẽ gặp được một người đàn ông trong mộng thật giàu có, cao ráo, đẹp trai. Phần cuối truyện là chi tiết cô gái ngờ ngệch này nghĩ về việc người chị gái ở nhà sẽ nhờ thày cúng giúp mình gặp được người tình trong mộng, nhưng ngay sau đó là ý nghĩ về việc đến đêm cô sẽ lại phải hỏi gã Henry cái câu quen thuộc: “Mày trả tao bao nhiêu tiền đêm nay?”. Những chi tiết hài hước nhưng có sức cảnh tỉnh không kém phần sâu sắc với những người thực dụng như Nhan. Truyện Giữa bầy chó có đoạn nói về chi tiết lão hàng xóm bênh nhân vật “con Cả” bằng việc nửa đêm ném đá vào cổng sắt và cửa sổ nhà nhân vật “tôi”. Có hành động mã thượng như vậy hóa ra vì lão ta đã được “ngủ với con Cả, (nghe nói ngủ đủ ba chị em, trả tiền xông xênh cả ba)”. Trong Ngàn xanh và gió có đoạn kể tay nhà báo – “cây viết có hạng” đang ngồi chỗm chệ trên cái giường đôi cùng bồ nhưng lại gọi điện cho bà vợ đáng thương ở nhà với những câu thể hiện hình ảnh của một người yêu vợ thương con hết mực.

     Giọng điệu giễu nhại, hài hước còn được Xuân Hà thể hiện qua việc xây dựng các chân dung nhân vật với những nét hài hước, mâu thuẫn, kệch cỡm. Điều này có thể xuất hiện ở ngoại hình, suy nghĩ, cách nói năng và hành động của họ. Đọc truyện ngắn Đô hội, ta không chỉ thấy nhân vật Nhan là một hình tượng hài hước mà người chị của cô cùng bà chủ quán bia cũng có những chi tiết gây cười không kém qua lời nói và suy nghĩ của mình. Với truyện Bên cạnh căn gác nhỏ nửa đêm, có lẽ khó có độc giả nào không bật cười trước vẻ mặt và đặc biệt là hành động rất trẻ con của tên hàng xóm ở tầng trên của nhân vật “tôi”: “Tôi ngồi bên trong nhà, bỗng nghe có tiếng nước xối từ trên mái. Nhảy lên xem, hóa ra thằng hàng xóm gầy nhẳng như con cú vọ đói đang vắt chim đái từ nhà hắn” và dù “đã có vợ và một con. Nhưng nom hắn ngờ nghệch giống như trẻ con chưa lớn, động tí là nhảy lên loi choi cãi nhau với vợ”.

     Giọng điệu giễu nhại, hài hước không chỉ được Xuân Hà thể hiện qua việc xây dựng chân dung những nhân vật bình dân mà còn hướng tới cả những người có vai vế trong xã hội. Khang trong Ngàn xanh và gió là một gã “mặt dơi tai chuột”, yêu một nữ văn sĩ hơn mình gần hai mươi tuổi. Và đây là cách trang phục và hành động của người đàn bà ấy khi đi cùng chàng người yêu trẻ tuổi: “Chị Thủy quấn liền một lúc ba cái khăn, cái quấn cổ, cái trùm chỏm đầu, cái bịt quanh mặt và mũi, y như một bà già; mặc cái áo bông chần không phải hàng lụa óng ả mà là thứ vải thô trần kiểu như bà già, leo lên xe Khang ngồi bám hai tay vào hông anh Khang hệt như bà mẹ già ngồi sau đứa con trai ngoan”. Văn sĩ thì như thế, còn đạo diễn điện ảnh – những người mà công chúng biết đến với vẻ ngoài thật hào nhoáng thì sao? Đây là chân dung ông đạo điễn nổi tiếng Đinh Việt Bá trong Mùa phim trường, một kẻ “bỏ học ngày xưa”, “hai vợ bốn năm con nhân tình”; ngôn từ thì chẳng khác hàng tôm hàng cá. Chân dung biếm họa này với những chi tiết hài hước đã lột tả được không ít hiện thực nhức nhối của ngành điện ảnh nói riêng và giới showbiz Việt nói chung trong cơ chế thị trường hiện nay. Võ Thị Xuân Hà đã từng đoạt giải thưởng trong một cuộc thi sáng tác về vẻ đẹp của người chiến sĩ công an. Nhưng đó là với Mặt trời ở lại, còn trong tác phẩm Giữa bầy chó là chân dung khác hẳn về một anh công an phường khi muốn răn đe mấy kẻ xấu ở một khu xóm liều: “Anh ta đứng chống tay trước cửa nhà con Út, gióng giả: “Chúng mày mà động vào con đó, nó thiệt một thì chúng mày thiệt mười. Mẹ kiếp, đến công an bọn tao còn ngán cái mác của nó, thế mà chúng mày dám chọc vào nó”. Nghe những câu nói này của anh công an ta chẳng thấy khác là mấy so với lời của mụ nạ dòng đi cùng tên đàn ông mặt rất hầm hố trong Bên cạnh căn gác nhỏ nửa đêm.

     Có thể thấy bất cứ hiện tượng hay con người nào có những biểu hiện phản cảm, kệch cỡm đều có thể trở thành đối tượng châm biếm của Xuân Hà. Nhưng có điều cần chú ý là giọng điệu hài hước trong văn chị thường không sâu cay, chua chát mà thiên về châm biếm nhẹ nhàng, qua đó giúp người đọc thấy được mặt trái của đối tượng và những điều nhà văn muốn nói. Chính điều này góp phần làm cho độc giả thấy văn của Xuân Hà gần gũi, lôi cuốn hơn.

     Giọng điệu nghệ thuật có một vai trò rất quan trọng trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học cũng như với bản thân nhà văn. Bởi nó không chỉ giúp tác giả một cách đắc lực trong việc chuyển tải những dụng ý nghệ thuật mà còn tạo nên nét riêng cho tác phẩm và thể hiện phong cách độc đáo của nhà văn như M. Khrapchencô đã từng nói: “cái quan trọng trong tài năng văn học (...) là tiếng nói của mình (...), là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác”. Xét ở khía cạnh này, có thể khẳng định Võ Thị Xuân Hà đã bước đầu thành công trong nỗ lực tạo cho sáng tác của mình một chất giọng riêng có sức dư ba trong lòng độc giả.