Bắt nguồn từ hệ thống sông Thái Bình, dòng thiêng Bạch Đằng hùng vĩ là ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, là nơi chứng kiến biết bao chiến công lẫy lừng trong lịch sử cũng như là nguồn nước phù xa bồi đắp, nuôi dưỡng sự phát triển của hai vùng đất ven bờ. Nằm hiền hoà một bên bờ của dòng sông lịch sử ấy là mảnh đất anh hùng có tên Yên Hưgng, một huyện trọng điểm nông nghiệp của tỉnh Quảng Ninh, nơi có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nhiều hải sản biển và những cánh đồng bạt ngàn trù phú; những rừng thông trải dài reo trong gió như tiếng thì thầm của biển và đặc biệt là hệ thống dày đặc những di tích lịch sử vẫn còn lưu giữ mãi cùng thời gian.  

Tôi về Yên Hưng trong một ngày cuối tháng ba nắng vàng rực rỡ. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này khá nhiều ưu đãi, ở nơi đây có biển, có sông, có hồ lại có cả rừng, núi tạo thành một quần thể phong cảnh thơ mộng và hữu tình; người dân nơi đây hiền hoà, thân thiện và cởi mở như nụ cười của thiếu nữ vùng sơn cước dễ làm xao lòng du khách mỗi lần ghé thăm.  



Từ quốc lộ 18A trên tuyến đường Hà Nội - Hạ Long rẽ vào quốc lộ 10A, dọc một bên đường đi là đồi thông Yên Lập xanh mướt đang rì rào trong gió xuân. Nằm giữa rừng thông bạt ngàn ấy có một con suối nước trong vắt quanh năm róc rách chảy với ba thác nước tuyệt đẹp là Thác Mơ, Thác Đôi và Thác Sen, là một chốn nghỉ chân thư giãn tuyệt vời cho những du khách thích được đắm mình trong không gian yên tĩnh và trong lành. Đi sâu vào bên trong một chút, thuộc địa bàn xã Minh Thành là hồ Yên Lập, hồ thủy lợi lớn chứa nguồn nước ngọt của tỉnh và cũng là một danh thắng tuyệt đẹp mà du khách không thể bỏ qua… 

Không những được biết đến với những cảnh đẹp tự nhiên, Yên Hưng còn tự hào là vùng đất có mật độ rất đậm đặc các di tích,với hơn 200 di tích lịch sử - văn hoá các loại, bao hàm trong đó là các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó có 39 di tích đã được Nhà nước xếp hạng di tích Quốc gia, 13 di tích xếp hạng cấp tỉnh.  

Tôi theo chân người bạn vào thắp hương trong chùa Yên Đông. Trong số các ngôi chùa cổ còn lại ở Quảng Ninh thì chùa Yên Đông (hay còn gọi là An Đông) ở xã Yên Hải, huyện Yên Hưng là một trong số ít những ngôi chùa cổ còn lại tương đối nguyên vẹn. Toạ lạc trên khu đất “có địa thế hùng tráng, được tứ khí chung đúc, sông, núi, gò, đồng bốn phía đủ cả thanh long, bạch hổ, huyền vũ, chu tước, là nơi đệ nhất danh thắng xứ Hải Đông xưa” (theo tấm bia  “An Đông tự bi ký” khắc năm Hưng Trị thứ 2 1590), chùa Yên Đông là nơi thờ Phật rất thiêng liêng của người dân nơi đây. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, các thiện nam tín nữ khắp nơi lại nô nức đến vãng cảnh chùa và cầu xin những điều may mắn đến với mình trong năm mới.  

Rời chùa Yên Đông chúng tôi đến thăm Đình Cốc, một trong những ngôi đình cổ kính và bề thế còn lại ở Việt Nam với kiến trúc điêu khắc độc đáo, xuất phát từ vị trí địa lý của mảnh đất dựng đình giống hình con chim Cốc, cũng có thể xuất phát từ tên gọi của Làng Phong Cốc xưa. Ngôi Đình được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 năm Gia Long 1802, đây được coi là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của kiến trúc đình làng Việt Nam. Đình Cốc thờ Thành hoàng của làng là tứ vị Thánh nương. Đây là một ngôi đình có độ sâu vào loại bậc nhất nước ta, rộng tới 15m, dài tới 35m. Đình ngoài gồm 7 gian 2 trái. Vì kèo của đình được làm theo kiểu giá chuông kẻ suốt, mỗi vì có 6 hàng cột. Những cột cát của đình đều có kích thước rất lớn tới 0,80 m. Cột ở đây được tạo theo lối "Thượng thu hạ thách". Các vì kèo cũng làm theo lối này, nghĩa là phía dưới to hơn phía trên, tạo ra thế đứng vững cho từng cây cột, vì kèo. Đây là một hình thức tính toán thông minh trong kiến trúc đình cổ. Mái đình rộng bề thế, diềm mái hơi lượn, cong dần về hai góc mái,hợp với đầu đao cong vút làm cho mái đình tuy nặng nề mà vẫn thanh thoát nhẹ nhàng. Hàng năm tại Đình Cốc diễn ra hai hội làng là Hội đình vào ngày 15 tháng giêng và Lễ hội Xuống Đồng (hội cầu mùa) vào đầu tháng 6 âm lịch.

Tiếp tục hành trình, chúng tôi đến thăm đình Trung Bản, một trong những ngôi đình cổ còn nguyên vẹn đến ngày nay. Vừa bước tới sân đình rêu phong và cổ kính, tôi đã cảm nhận được những đặc trưng của một làng quê Việt Nam hiện hữu rất rõ ràng nơi đây với hình ảnh “cây đa, giếng nước, sân đình”. Nghe nói đình được  nhân dân trong vùng dựng lên sau chiến thắng quân Nguyên – Mông để ghi lại dấu ấn trong  lúc xung trận, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc tuấn vì mải mê đánh giặc tóc của Ngài xoã xuống, và nơi Ngài chống kiếm búi tóc sau này nhân dân đã dựng đền thờ để ghi lại. Hiện trong đình vẫn còn lưu giữ một bức tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo được sơn son thếp vàng ngồi trên ngai; tóc phía sau xổ dài tới tận thắt lưng đây là một trong những pho tượng đẹp vào loại bậc nhất trong cả nước. Hàng năm tại đình làng nhân dân vẫn tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao Người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Trong lễ hội có nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và các trò chơi dân gian phong phú.

Điểm đến cuối cùng trong chuyến tham quan các di tích lịch sử Yên Hưng của tôi là cụm di tích đền Trần Hưng Đạo, Miếu Vua Bà. Đền thờ trần Hưng Đạo trước kia nằm ở xứ Hậu Đồng cạnh sông Bạch Đằng thuộc làng Rừng xã An Hưng, huyện Yên Hưng, Phủ Hải Đông (Phủ Hải Đông sau đổi thành Trấn Yên Quảng, rồi đổi thành tỉnh Quảng Yên). Đến năm 1934, dưới thời Vua Bảo Đại thứ 9, do ngôi đền xuống cấp, chật hẹp, vị trí chưa thích nghi, nhân dân bản xã đã chuyển ngôi Đền đến dựng trên doi đất cổ nằm ở giữa ngã ba sông Bạch Đằng, sông Giá và sông Đá Bạch, nơi trung tâm chiến trận Bạch Đằng năm 1288; nơi đã thấm máu quân dân nhà Trần và xác giặc Mông - Nguyên. Miếu Vua Bà, theo truyền thuyết và thần phả kể lại: xưa kia đây là bến đò có bà hàng nước đã cung cấp cho Trần Hưng Đạo lịch con nước triều và địa thế lòng sông để Trần Hưng Đạo chuẩn bị trận địa cọc ngầm và bố trí quân mai phục. Bà còn mách bảo cách trói và chém Phạm Nhan, cách làm bè mảng chất cỏ khô dùng kế hoả công tiêu diệt thuyền giặc. Cụm di tích Đền thờ Trần Hưng Đạo, Miếu Vua Bà được dựng ngay bên dòng sông, nơi diễn ra chiến trận Bạch Đằng là một di tích quý báu minh chứng cho chiến thắng Bạch Đằng 1288.

Về Yên Hưng vào những ngày cuối tháng ba này, tôi được biết sẽ có một lễ hội lớn được tổ chức vào đúng dịp tròn 720 năm sự kiện chiến thắng Bạch Đằng (mùng 8 tháng 3 năm Mậu Tý 1288 – 2008). Những hoạt động kỷ niệm sẽ kéo dài trong ba ngày (từ 11-13/4/2008) và diễn ra tại nhiều nơi trong toàn huyện nhưng những hoạt động chính sẽ được tổ chức tại khu vực trung tâm lễ hội là khu vực Đền Trần Hưng Đạo, Miếu Vua Bà với nhiều hoạt động văn hoá thể thao phong phú trong cả phần lễ và phần hội. Phần lễ: có nghi lễ rước tượng đức thánh Trần Hưng Đạo; Màn chào mừng lễ hội với các tiết mục biểu diễn của các ca sỹ sao mai trong tỉnh và trung ương; Tái hiện sân khấu hóa chiến thắng Bạch Đằng 1288; Diễn sướng âm vang trống trận Bạch Đằng; trống hội Bạch Đằng. Phần hội có các hoạt động vui chơi, văn hóa thể thao: Giải bơi thuyền chải truyền thống Bạch Đằng; Triển lãm sinh vật cảnh; Hội thi chim hoạ mi chiến; Chơi cờ người, cờ thẻ, kéo co, đánh vật, chơi đu, chọi gà...  

Tôi thả hồn ngắm khoảng trời bao la, đứng ngắm nhìn khuôn viên rộng thênh thang trước cửa ngôi đền Trần Hưng Đạo,  miếu Vua Bà nơi trung tâm diễn ra lễ hội, những luồng gió từ cửa sông Bạch Đằng thổi vào mát rượi, làm dâng trào cảm xúc trong tôi như cảm nhận được không khí làm việc khẩn trương của những người công nhân đang ngày đêm tất bật cho công việc nạo vét đường bơi chuẩn bị cho lễ hội. Cũng trong không khí linh thiêng ấy của ngôi Đền, tôi vẫn cảm nhận được một “Hào khí Đông A” đang bừng sáng và niềm tin tưởng vào sự phát triển nhanh chóng và bền vững sẽ đến với Yên Hưng, mảnh đất tôi đã đem lòng mến yêu dù chỉ mới một lần ghé thăm./.

 Phòng VHTT