Nghề đan thuyền và ngư cụ ở phường Nam Hoà (Quảng Yên) đã có từ lâu. Trải qua những thăng trầm, nhiều thế hệ gia đình ở đây vẫn bám trụ với nghề này. Tuy nhiên, trước những thay đổi về thị hiếu của khách hàng đã khiến cho thị trường ngày càng bị thu hẹp. Nhiều người phải ngậm ngùi tìm kế sinh nhai mới trong sự nuối tiếc, đau đáu với nghề truyền thống một thời của ông cha...

Khách tới xem thuyền.
Khách tới xem thuyền.

Chỉ còn “vang bóng”

Chúng tôi có mặt ở Nam Hoà vào những ngày cuối tháng 8 nắng gắt. Dẫn đường cho chúng tôi, ông Vũ Văn Tưởng, Phó trưởng Khu 3, phường Nam Hoà liên tục thở dài vì tình trạng bi đát của làng nghề. Ông Tưởng cho biết: Vào lúc thịnh vượng quá nửa số hộ dân nơi đây theo nghề đan thuyền. Ước tính mỗi năm làng nghề đã xuất bán hàng nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ (trọng tải từ vài tạ đến trên 10 tấn) phục vụ ngư dân địa phương và các tỉnh lân cận đi sông, biển đánh bắt cá, mực... Đi tới đâu cũng nhìn thấy hình ảnh người người đan thuyền, nhà nhà đóng thuyền. Lớn có công việc của lớn, bé làm công việc của bé. Thậm chí đến cả những đứa trẻ mới bi bô cũng thấy lăng xăng quanh những chiếc thuyền đang được người lớn hoàn thiện. Thu nhập từ đan thuyền khá ổn định giúp người dân yên tâm với nghề. Thế nhưng đến bây giờ, cả phường chỉ còn lại khoảng 25 hộ gia đình còn trụ được với nghề. Lượng cung giảm như vậy mà cũng chẳng cải thiện được là bao. Thuyền lớn, nhỏ ê hề đầy đường mà chẳng có khách mua.

Đến thăm gia đình ông Hoàng Văn Chỉnh, khu 3, phường Nam Hoà hiện đang có 3 thế hệ cùng làm nghề đan thuyền nan và ngư cụ. Ông Chỉnh năm nay đã 80 tuổi nhưng vẫn khá tinh anh. Vừa tiếp chuyện chúng tôi, bàn tay thoăn thoắt của ông vẫn đều đặn đưa những sợi nan kết lại thành những chiếc lờ (một thứ ngư cụ phổ biến dùng để bắt cá của ngư dân). Nhắc đến nghề đan thuyền truyền thống, bỗng chốc bàn tay nhanh nhẹn dừng lại, ông cười buồn: Tôi lớn lên được cũng là nhờ nghề đan thuyền. Từ đời bố mẹ, ông bà đã gắn bó với nghề này rồi. Mà không chỉ có tôi đâu, hầu như gia đình nào ở đây cũng đã từng đan thuyền để bán. Chỉ cách đây 3 năm thôi, thuyền đan xong đến đâu là hết đến đấy. Thậm chí khách còn phải đặt hàng mới có thuyền để sử dụng. Thế mà bây giờ, cả tháng may chăng được 2-3 cái thuyền là giỏi. Toàn bộ thu nhập gia đình chủ yếu trông chờ vào việc đan ngư cụ nhưng cũng không mấy khả quan. Trung bình mỗi tháng gia đình bán được hơn 300 chiếc lờ đánh cá với giá 13.000 đồng/chiếc. Trừ chi phí nguyên liệu thì thu nhập còn lại chẳng là bao, không đủ đảm bảo nguồn sống cho đại gia đình. Cứ như thế này, những thế hệ sau chúng sẽ phải tìm kế sinh nhai mới, chỉ sợ một ngày nghề đan thuyền mất dấu hẳn trên đất Nam Hoà…

Người con trai lớn của ông Chỉnh là ông Hoàng Văn Choảng cho biết thêm: Thiếu đầu ra cho sản phẩm ngay cả đại lý cũng thờ ơ với việc nhập nguyên liệu đan thuyền. Vì sợ nhập nhiều hàng ứ đọng không bán được. Còn đối với lực lượng lao động trẻ, trước giờ vẫn theo nghề đan thuyền nay không việc để làm phần nhiều đã phải đi tìm việc khác. Thế nên, giờ chủ yếu chỉ có những lao động già như chúng tôi cứ túc tắc làm nghề…

Để hoàn thành 1 chiếc tàu cỡ nhỏ, trung bình người thợ mất từ 5-6 ngày. (Ảnh chụp tại cơ sở đan thuyền của ông Hoàng Văn Chiến, khu 4, phường Nam Hòa, TX Quảng Yên).
Để hoàn thành 1 chiếc tàu cỡ nhỏ, trung bình người thợ mất từ 5-6 ngày. (Ảnh chụp tại cơ sở đan thuyền của ông Hoàng Văn Chiến, khu 4, phường Nam Hòa, TX Quảng Yên).

Thay đổi để giữ nghề truyền thống

Theo số liệu thống kê của phường Nam Hoà, trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế hiện nay đã khiến sức tiêu thụ sản phẩm thuyền truyền thống tại địa phương bị sụt giảm nghiêm trọng. Ước tính sản phẩm thuyền các loại được tiêu thụ năm nay chỉ bằng 1/3 sức tiêu thụ so với cùng thời điểm năm 2011. Các loại ngư cụ khác tuy tiêu thụ khá, nhưng giá thành cũng phải giảm khoảng 10-20% so với mọi năm nên cũng chỉ gọi là cầm cự chứ không thể duy trì về lâu dài. Đây thực sự là một thách thức lớn với làng nghề truyền thống. Không ít gia đình đã có tới 2, 3 thế hệ làm nghề cũng phải từ bỏ công việc này để tìm nghề mới, đảm bảo thu nhập hơn.

Tại một trong những cơ sở quy mô như của gia đình ông Hoàng Văn Chiến, nếu tính vào thời điểm năm 2010, một tháng cơ sở này bán cả chục con thuyền là chuyện bình thường. Nhưng đến thời điểm này, trung bình mỗi tháng cũng chỉ bán được dăm bảy thuyền đã là nhiều. Giải thích cho chúng tôi về tình trạng thuyền thiếu khách đặt mua, ông Chiến cho biết: Một phần do kinh tế khó khăn nên khách ngại đặt những con thuyền cỡ lớn. Đối với thuyền loại nhỏ, khách hàng lại chuộng sản phẩm thuyền sử dụng nguyên liệu nhựa mới sơn thuyền thay cho loại nhựa mà chúng tôi đang sử dụng. Tính ra một con thuyền thành phẩm khi hoàn thiện với loại nhựa mới này có mức giá cao hơn từ 4-5 triệu đồng so với loại thuyền truyền thống trước đây nhưng độ bền thì cao hơn hẳn. Chính vì vậy, khách hàng rất ưa chuộng. Tuy nhiên, do loại nguyên liệu mới khá đắt, nếu mua phải đặt hàng với số lượng lớn thì đại lý mới cung cấp. Trong khi đó, đơn hàng đang khan hiếm nên chưa có gia đình nào trong phường sử dụng nguyên liệu này trong đan thuyền. Những gia đình còn trụ được với nghề chủ yếu là tiêu thụ sản phẩm thuyền nan loại nhỏ. Hiện các gia đình còn duy trì nghề truyền thống chưa có bất cứ hỗ trợ nào đáng kể để duy trì nghề truyền thống.

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Hoàng Xuân Phong, Phó Chủ tịch UBND phường Nam Hoà cho biết: Làng nghề truyền thống ở TX Quảng Yên chiếm tới 50% số lượng làng nghề trong tỉnh. Riêng nghề đan thuyền ở Nam Hoà từ lâu không chỉ được coi là nghề nuôi sống hàng trăm hộ dân tại đây mà còn là nét đẹp truyền thống lâu đời của địa phương. Tuy nhiên, những khó khăn trong nghề hiện nay đã khiến không ít hộ gia đình phải từ bỏ nghề truyền thống. Đối với các hộ gia đình còn giữ nghề hiện cũng chưa tìm được hướng đi nào có hiệu quả để duy trì nghề. Nếu tình trạng này không cải thiện thì chỉ vài năm nữa số hộ theo nghề chỉ còn tính trên đầu ngón tay.

Trước những thách thức mới, rõ ràng nghề truyền thống cũng cần phải có hướng đi mới, phù hợp hơn với thị trường. Bên cạnh nỗ lực của người dân, thiết nghĩ, để làng nghề truyền thống phát triển trong giai đoạn hiện nay, rất cần sự quan tâm của các cấp, ngành và địa phương trong công tác khuyến công ở các làng nghề; tăng cường các hỗ trợ về vốn, chính sách... Quan trọng nhất vẫn là việc tìm hướng đi để sản phẩm truyền thống có đầu ra ổn định.

Theo:

Hồng Nhung

baoquangninh.com.vn