Lễ hội Tiên công vùng Tứ xã Hà Nam huyện Yên Hưng

Lễ Ra cỗ họ vào Ngày mồng 3, 4 tháng Giêng âm lịch

Ngày mồng 3 tháng Giêng, các gia đình trong dòng họ vùng Tứ xã đều đem lễ vật đến cúng Tổ tại từ đường của dòng họ mình, gọi là lễ Ra cỗ họ ( họ Lê xóm Cống xã Phong Cốc ra cỗ họ vào ngày mùng 4 tháng giêng).

Lễ ra cỗ họ mang ý nghĩa cầu mong tiên tổ phù hộ cho con cháu trong dòng họ mạnh khoẻ, làm ăn may mắn, thuận lợi trong cả năm. Lễ ra cỗ họ là dịp để con cháu tỏ lòng thành hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Ngày Ra cỗ họ thực sự là một ngày hội lớn trong vùng tứ xã. Từ 8 giờ sáng đến 11 giờ, mỗi gia đình đều có một mâm cỗ hoặc gánh cỗ nườm nượp đến từ đường dòng họ để lễ Tổ. Đúng 12 giờ trưa, các dòng họ đều tổ chức tế Tổ, đây là một hình thức cúng tiễn tổ tiên trong tết Nguyên đán của từ đường các dòng họ. Từ ngày làm lễ ra cỗ họ tới đêm ngày mồng 5 tháng Giêng, gia đình có cụ thượng thọ 80 tuổi, 90 tuổi, 100 tuổi đều có lễ vật tới từ đường cáo tiên tổ và báo cho hội đồng gia tộc biết gia đình của dòng tộc đã có người được hưởng phúc lộc của tổ tiên và trời ban tuổi thọ. Tuy chỉ giới hạn trong phạm vi dòng họ của mình nhưng đã góp phần tạo cho cả vùng đảo Hà Nam trở thành một ngày hội lớn, ngày hội của đại gia đình các dòng họ Tiên công, đồng thời lễ ra cỗ họ và lễ mừng thọ tại mỗi gia đình là một hoạt động lễ và hoạt động hội cấu thành nên lễ hội Tiên công.


Ngày mồng 5, mồng 6 tháng Giêng:

Là những ngày chuẩn bị cho lễ hội. Các trai tráng ở các làng, các giáp chuẩn bị xới chọi trâu ở đượng Nhọ Nồi gần miếu, xới chọi gà, giúp người già có kinh nghiệm trồng cây đu, nhiều gia đình cũng chuẩn bị các trò chơi ở khu vực gần miếu như thả vòng cổ chai, cờ tướng... Cánh thanh niên nam nữ, các ông bà trung tuổi có giọng hát hay thì luyện tập hát đúm để ngày hội hát đúm với các làng, thi hát với người chơi hội ở Thuỷ Nguyên. Chiều ngày mồng 6, các cụ tiên thứ chỉ của các làng Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La và các dòng họ làm lễ yết tại miếu thờ. Sau đó họp bàn cắt cử chủ tế, bồi tế, đông xướng, tây xướng và những người chấp sự của đoàn tế tứ thôn. Và tế Tiên công vào buổi trưa ngày mồng 7 tháng Giêng, thường là những người trong đội tế của các dòng họ, am hiểu nghi thức, nghi lễ của một cuộc tế. Riêng chủ tế được bình chọn kỹ lưỡng. Chủ tế thường được chọn luân phiên hàng năm giữa các thôn Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La, Trung Bản. Chủ tế phải là người cao tuổi, có sức khỏe, không có tang trở, vợ chồng song toàn, con cái phương trưởng, có nếp có tẻ (có nam có nữ) gia đình hoà thuận, ăn ở đức độ, có uy tín với làng xã. Người được chọn làm chủ tế thì con cháu làm mâm cỗ ra từ đường dòng họ cáo với tiên tổ và đến miếu Tiên công tạ Tiên công. Chiều mồng 6, các cụ tiên thứ chỉ còn điểm lại các cụ ông, cụ bà tròn 80, 90 tuổi, 100 tuổi ở các làng, chọn luôn bốn cụ Thượng tiêu biểu có sức khoẻ để đắp đê tượng trưng ở cửa miếu vào ngày chính hội (mồng 7 tháng Giêng) và hai cụ Thượng đánh vật tượng trưng ở miếu Tiên Công trong nghi lễ của hội. Sau đó, chỉ huy thanh niên đắp một con đê bằng đất tượng trưng ở cửa miếu để các cụ thượng thọ đắp đê tượng trưng trong ngày chính hội.

Nghi lễ mừng thọ

Con cháu các gia đình có cụ thượng thọ chuẩn bị lễ phục cho các cụ. Lễ phục cho cụ ông gồm: khăn xếp màu đen, áo dài bằng vải satanh hoặc lụa màu xanh, đỏ hoặc vàng có in nhiều hình chữ Thọ, quần trắng, giày vải nhung màu trắng, gậy chống làm bằng cây trúc hoặc gỗ được trang trí đẹp. Một ống điếu cổ trang trí đẹp.

Lễ phục cho cụ bà gồm: khăn vấn bằng nhung the đen, áo cánh bên trong, bên ngoài là áo dài tứ thân màu gụ, áo ngắn dài tay để vận bên ngoài được may bằng vải nhung the trần hai lớp, tràng hạt đeo cổ, quần được may bằng vải lụa hoặc satanh màu đen, giầy bằng vải nhung màu xanh, đỏ hoặc vàng, gậy cầm tay được làm bằng trúc hoặc gỗ được trang trí đẹp và một hộp đựng trầu cau. Ngày nay, cụ Bà thượng thọ cũng được con cháu sắm trang phục áo dài bằng sa tanh hoặc lụa màu xanh, đỏ hoặc vàng in trang trí nhiều chữ Thọ.

Chuẩn bị ban thờ cho nghi lễ mừng thọ:

Trang trí án gian (hương án) thờ long mã: án gian cổ truyền được sơn son thếp vàng; một trong những đồ thờ đặc biệt được bày trên hương án là mâm ngũ quả được trình bày dưới hình dáng con long mã. Long mã (đầu rồng mình ngựa) rất đẹp và uy nghi, được làm bằng các loại hoa quả, sản vật địa phương: đầu long mã làm bằng quả đu đủ xanh, răng nanh làm bằng các quả ớt đỏ, râu làm bằng hoa cây móc, mũi bằng quả na, thân và chân làm bằng các quả chuối, hoa chuối, điểm thêm các quả quýt, đuôi và bờm làm bằng hoa cây móc và mắt được điểm bằng hai hạt nhãn. Toàn bộ con long mã được đặt trên một mâm bồng hình chữ nhật sơn son thếp vàng. Theo Phật sử, long mã là con vật dữ ở biển, được Phật quy y làm đệ tử, giao cho trị thủy ở biển Đông, có tên gọi Ananđà. Người dân vùng đảo Hà Nam thờ long mã trong lễ mừng thượng thọ là tín ngưỡng thờ thần biển cầu mong sức khỏe để chống chọi với thiên nhiên dữ dằn vùng cửa biển, cầu mong vị thần long mã giúp dân trị thuỷ để bảo vệ đê điều, giúp cho con cháu đi sông đi biển được an toàn, công việc may mắn. Con long mã còn có ý nghĩa là mâm ngũ quả, ban đầu các gia đình tự làm, lâu dần tạo ra những nghệ nhân khéo tay chuyên kết long mã. Khi kết long mã đẹp hay không con tuỳ thuộc vào vật liệu, tuỳ thuộc vào cảm hứng của các nghệ nhân thổi hồn vào long mã, biến vị thần biển đồng thời là mâm ngũ quả thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Nhờ vậy mà vào ngày rước các cụ thượng lên miếu thờ Tiên công, dân làng đứng rất đông hai bên đường làng không phải chỉ để đón xem các đoàn rước mà còn để xem "chấm điểm" các con long mã.

Phía trước án gian thờ Long Mãứ đặt một bàn đặt lễ trên có đặt hộp trầu cau của cụ bà, ống điếu của cụ ông. Hai bên bàn đặt lễ là hai ghế thọ (ghế ngồi kiểu cổ). Nếu song thọ, tức hai cụ ông và cụ bà đều thượng thọ thì ghế bên phải nhìn từ ngoài vào là của cụ ông, ghế bên trái là ghế của cụ bà. Nếu chỉ cụ ông hoặc cụ bà thượng thọ, thì cụ được thượng thọ ngồi ghế bên phải, còn cụ chưa thượng thọ ngồi ghế bên trái và cụ chưa được mặc áo thọ. Phía trên ban thờ (trên cửa chính) thường treo bức đại tự nói vềõ chúc thọ như: ghi "Đăng thọ tịch" (ngồi chiếu thọ) “Tân xuân khánh tho”  ù Hai bên là các câu đối chúc thọ như:

Thiên định tứ thời xuân tại thủ

Nhân cầu ngũ phúc thọ vị tiên.

Tạm dịch là:

Trời định bốn mùa xuân là gốc

Người cầu năm phúc thọ làm đầu.

Hoặc:

Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường

Tạm dịch là:

Trời thêm năm tháng, người thêm thọ

Xuân khắp đất trời phúc khắp nhà.

Mỗi nhà có nội dung đại tự, câu đối khác nhau.

Phía sau hai ghế thọ của cụ thượng ngồi: một bên đặt biểu tượng chữ Thọ, một bên đặt một cành đào lớn nở hoa. Hai bên ghế thọ là chậu cúc vạn thọ, chậu vạn tuế, phía trước dọc theo án gian thờ long mã là hai dãy bát biểu (của gia tộc); mọi người dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị bàn ghế, bắc rạp làm nơi để các con cháu lễ sống cụ thượng thọ. Cổng ngõ được kết cổng trào có câu đối và đại tự bằng giấy có nội dung thượng thọ.

Lễ thượng thọ còn được gọi bằng những tên khác là lễ kính xỉ, lễ thiên tước. Đó thực sự là một lễ hội gia đình, họ tộc. Người ta quan niệm gia tộc nào có người thượng thọ nghĩa là gia tộc đó ăn ở phúc đức, làm nhiều việc thiện, lao động sản xuất giỏi nên được các Tiên công phù trợ cho trường thọ. Bất kể là ai, dù ở chi trên hay chi dưới, người đạt đến tuổi thượng thọ đều được gia tộc kính trọng gọi là "Cụ Thượng" và trở thành tên gọi thứ hai mà mọi người trong gia tộc sẽ dùng trong giao tiếp với người đạt đến tuổi đó. Những người hàng trên bậc cha chú của cụ Thượng, khi đến mừng thọ vẫn nói chúc mừng cụ Thượng. Với người hàng trên đến mừng thọ thì cụ Thượng nhận lễ xong phải đứng lên rời ghế thọ để mời các bậc hàng trên là cha chú ra bàn uống nước. Các cụ Thượng đến từ đường được trân trọng, được hội đồng gia tộc xin ý kiến về nhiều việc của họ tộc như cúng tế, sửa sang từ đường. Việc tổ chức các công việc hiếu, hỉ, khai trương, khánh thành nhà mới và nhất định phải mời được cụ Thượng đến dự để lấy may mắn.

Vào dịp này, các con cháu trong gia đình góp phần chi phí cho gia đình tổ chức lễ thượng thọ. Người có nhiều thì làm kép, gia đình hẹp thì làm đơn, còn họ tộc thì giúp các đồ khí tự và nhân lực cho các đoàn rước. Mọi người cho rằng đó là tuổi trời ban ("thiên tước") cho cả gia đình và họ tộc. Lễ thượng thọ được chuẩn bị chu đáo từ trước tết, có khi trước tết hàng tháng. Con cháu các cụ phải lên danh sách khách mời, phân hàng thứ bậc để xếp mâm, dự tính khách mời từ những họ tộc khác, lo chuẩn bị các loại thực phẩm, lương thực và người làm cỗ để khoản đãi khách. Người dân vùng đảo Hà Nam (đặc biệt là dân bốn xã: Cẩm La, Phong Cốc, Trung Bản và Yên Đông) đều cho rằng lễ thượng thọ quan trọng hơn cả lễ cưới và lễ tang. ở đảo Hà Nam còn có phong tục người nào đã đạt qua tuổi thượng thọ khi qua đời thì con cháu rất ít khóc, tang lễ được con cháu tổ chức long trọng, trong suy nghĩ cha mẹ quy tiên với tâm thế mãn nguyện, đám tang không thổi kèn khốc mà có đội nhạc bát âm cử điệu lưu thuỷ hành vân, khi đưa đám cũng có bát biểu, cờ ngũ phương như ngày hội. Tục này nay vẫn còn.

Nghi lễ mừng thọ thường được tổ chức như sau: cụ Thượng ngồi trên ghế thọ (nếu không song thọ vẫn mời ông hoặc bà ngồi với cụ Thượng, nếu cụ Thượng chỉ còn một mình thì bố trí một ghế cho cụ). Khi con cháu, họ tộc, khách mời, dân làng đến đông đủ, buổi lễ sẽ được bắt đầu.

Lễ mừng thọ ở gia đình thường diễn ra vào buổi sáng hoặc chiều ngày mồng 6 tháng Giêng: cụ Thượng vào bàn thờ gia tiên thắp hương lễ tiên tổ rồi ra ngồi trên ghế thọ. Con cháu xa gần, dòng tộc, láng giềng ngồi ở bàn ghế trong sân rạp. Người con trưởng lên đọc văn truy ơn cha mẹ, hứa với cha mẹ giữ trọn đạo hiếu, đoàn kết trong gia đình, dòng tộc và xóm giềng, nuôi dạy con cháu tốt, phát triển kinh tế gia đình, cám ơn con cháu, họ hàng, lối xóm đến mừng thọ cụ Thượng. Sau đó, người con trưởng đến lễ sống cụ Thượng. Tiếp theo đó lần lượt các anh em trong thân tộc, con cháu, bạn bè vào lễ sống cụ Thượng, chúc thọ cụ Thượng mạnh khoẻ, sống lâu và mừng rượu, hoa quả, bánh trái. Có người còn làm câu đối mừng thọ. Cụ Thượng phát lộc cho người vừa mừng thọ cụ, thường là bánh kẹo, hoa quả. Con cháu cụ Thượng mời khách khứa, bạn bè sau khi mừng thọ ngồi lại ăn trầu, bánh kẹo, uống nước gọi là hưởng lộc cụ Thượng. Gia đình khá giả thì làm cỗ mời khách, người thân và con cháu. Thường là từ chiều đến đêm ngày mồng 6, họ hàng thân thích, con cháu tấp nập đi chúc thọ cụ Thượng, cả một vùng quê náo nhiệt không khí của đêm hội Tiên công.

Cùng ngày mùng 6 tháng Giêng, tại khu vực miếu Tiên công, từ 11 giờ trưa làm lễ dâng hương. Xưa là lễ dâng cúng tứ xã. Nay tứ xã tổ chức tế Tiên công, lãnh đạo huyện dâng hương, con cháu và nhân dân trong vùng cũng đến miếu Tiên công để lễ tổ. Ngày nay, mồng 6 tết cũng là ngày để các cụ thượng thọ không tổ chức đoàn rước lên lễ ở miếu Tiên công trong ngày chính hội thì tổ chức đoàn dẫn lễ đưa cụ Thượng lên miếu Tiên công lễ tổ. Trong đoàn dẫn lễ: đi đầu là hai cháu gái hoặc con gái, con dâu cụ Thượng đội hai mâm lễ vật, một mâm gồm có bánh dày, trầu cau, một chai rượu trắng, một con gà luộc và một mâm ngũ quả. Cụ Thượng chống gậy cùng con cháu, họ tộc, bà con làng xóm đi sau hai mâm lễ vật. Đến miếu Tiên công, người con trưởng thắp hương cho cụ Thượng lễ Tiên công.

Các hoạt động trong phần hội cũng bắt đầu được tổ chức từ chiều và tối cùng ngày với các trò chơi đu, chọi gà, đấu vật, cờ thẻ, cờ người, hát đúm và một số hoạt động vui hội khác quanh khu vực đền Tiên công.

Ngày mồng 7, ngày chính hội

Như phần trên đã nêu, trong ngày mồng 6 tết, các gia đình có người thượng thọ đã tiến hành làm cỗ cáo yết Tiên công ở từ đường dòng họ và cỗ khao thượng thọ ở gia đình. Các cụ thượng thọ mà gia đình không có điều kiện tổ chức đoàn rước thì tổ chức đoàn dẫn lễ lên lễ tại miếu Tiên công. Còn các cụ Thượng được gia đình và dòng họ tổ chức rước thì tiến hành lễ rước lên miếu Tiên công ngay từ 5 giờ sáng ngày mồng 7 tết, ngày chính hội.

Rước thọ và lễ hội Tiên công

Sáng sớm ngày mồng 7 tết, từ 5 giờ, các gia đình có cụ thượng thọ đã có đoàn bắt đầu khởi hành đoàn rước. Đi đầu đoàn rước là ba người đóng giả các chú tễu múa gậy, múa quạt làm nhiệm vụ dẹp đường, tiếp sau là đội trống cà rồng não bạt gồm: trống cái, trống con, thanh la, não bạt, mõ. Đi sau đoàn trống cà rồng là hai hàng cờ ngũ sắc do năm nam thanh niên đầu quấn khăn đỏ, lưng áo thắt đai (khăn xanh) hoặc năm nữ thanh niên, đầu vấn tóc mặc áo dài tứ thân, tay giương cao cờ ngũ sắc để điều hành đoàn rước. Đó là năm màu cờ dùng để báo hiệu sự di chuyển của đoàn rước. Nếu cờ vàng được giương phất lên đi đầu nghĩa là đám rước dừng lại, nếu cờ xanh được giương phất lên thì đoàn rước đi về hướng đông và cờ xanh đi đầu. Cờ tím phất lên thì đoàn rước đi về hướng tây và cờ tím đi đầu. Nếu cờ trắng được phất lên thì đoàn rước đi về hướng bắc và cờ trắng đi đầu. Nếu cờ đỏ được phất lên thì đoàn rước đi về hướng nam và cờ đỏ đi đầu. Các đoàn rước đi từ khắp các ngả đường làng rồi đều tập trung về miếu Tiên công trong cùng một ngày, cùng thời điểm. Vì các đường làng chật kín người xem rước, nên các đoàn rước cụ Thượng phải nhìn cờ của nhau để điều chỉnh đi nhanh hay chậm. Đoàn rước cụ Thượng đi sau cứ nhìn cờ đoàn đi trước mà điều chỉnh đoàn rước của mình. Đi sau hàng cờ ngũ sắc là hai hàng bát bảo (bát bửu) do mười nữ tú đầu vấn khăn mỏ quạ, hai dải khăn thắt phía sau gáy, mặc trang phục áo dài tứ thân, chân đi giày vải, đi nghiêng người, hai hàng quay mặt đối diện nhau. Đi sau hai hàng bát bảo là đội nhạc bát âm, các nhạc công đội khăn xếp, mặc áo lương (áo dài the đen) vừa đi vừa chơi khúc nhạc “Lưu thuỷ hành vân". Đi sau đội nhạc bát âm là những người con gái hoặc dâu hoặc cháu gái nội cụ Thượng đội hai mâm lễ vật dâng Tiên công gồm: một mâm có chai rượu trắng, một buồng cau, một ít lá trầu, bánh dày hoặc bánh chưng, một con gà luộc hoặc thịt lợn (thủ lợn và đuôi lợn cài ngang hàm) và một đĩa muối. Một mâm ngũ quả. Kế sau hai mâm lễ vật là một án gian (hương án) do tám thanh niên đầu quấn khăn đầu rìu, mặc áo thắt đai màu đỏ, là họ hàng cụ Thượng khiêng. Trên án gian bày một con long mã được làm bằng hoa, quả, lá, dây móc; một mâm ngũ quả, hai lộc bình cắm hoa đào hoặc cúc vạn thọ... Sau án gian, người ta rước chữ Thọ được viết trên khung giấy hoặc khung vải lụa, tranh vẽ Phúc - Lộc - Thọ. Kế hai bên là các câu đối chúc Thọ. Võng đào của cụ Thượng đi liền sau chữ Thọ, võng đào được tết bằng các sợi dây đay nhuộm màu đỏ, võng được trải vải sa tanh, vải lụa hoặc vải nhiễu in hình chữ Thọ, hai đầu võng được mắc vào một đòn rồng sơn son thếp vàng do bốn thanh niên khiêng và một thanh niên đi bên cạnh che lọng, bên kia là một cháu (chắt) nội trai của cụ Thượng mang điếu theo hầu. Cụ Thượng mặc áo xa tanh xanh, đỏ hoặc vàng có thêu trang trí nhiều chữ Thọ trên áo.

Kiệu cho các cụ bà thượng thọ được làm giống kiệu Long đình, sơn son thếp vàng, đặt trên hai đòn rồng cũng sơn son thếp vàng. Tám thanh niên quấn khăn đầu rìu, mặc áo thắt đai lưng khiêng kiệu, một thanh niên đi cạnh cầm lọng che. Các cụ thường mặc áo thọ, cụ ông đội khăn xếp, tay cầm gậy, cụ bà đầu đội khăn nhung tay cầm gậy. Thường là các cụ Thượng cầm gậy đi bên cạnh võng đào hoặc đi bên cạnh kiệu. Cũng có cụ ông sức khoẻ yếu, nằm trên võng đào cho con cháu khiêng; hoặc cụ bà yếu, ngồi trên kiệu cho con cháu khiêng. Người con trưởng hoặc dâu trưởng đi cạnh cụ Thượng. Đi sau là các anh em nội thân, con cháu cụ Thượng cùng với gia tộc mặc quần áo đẹp, đưa cụ Thượng lên miếu lễ Tiên công. Con cháu cụ Thượng còn bưng cơi trầu mời bà con đứng xem rước ở hai bên đường.

 Dọc đường đi từ nhà cụ Thượng đến đền Tiên công, các con rể của cụ Thượng còn làm các quán nhỏ bên lề đường, quán thường được làm bằng vải như kiểu lều trại, được trang trí câu đối mừng thọ, cành đào, có bàn uống nước. Khi đoàn rước cụ Thượng đi qua quán, người con rể nghênh đón mời cụ Thượng vào quán nghỉ chân, con rể chúc thọ cụ Thượng. Cụ Thượng ban lộc cho con rể.

 Căn cứ vào thời gian mà các đoàn rước cụ Thượng đi nhanh hay đi chậm, thường là đi theo quy định "tiền tam hậu nhị" thì đi một nhịp chân, tức là đầu đoàn rước trống cái đánh ba tiếng (tùng - tùng - tùng), người cầm trống khẩu đi sau sẽ đánh hai tiếng (tung - tung), thì cả đoàn rước đi một nhịp chân bước. Mỗi nhịp chân bước chân có thể dài một bước hoặc một bàn chân, thường đến gần miếu, mỗi bước chỉ một bàn chân.

Xưa kia, khi các đoàn dẫn lễ đưa cụ Thượng hoặc đoàn rước cụ Thượng đến miếu Tiên công, con cháu đưa mâm lễ vật vào miếu Tiên công. Các cụ Thượng ngồi nghỉ ở nhà Nghi Môn phía ngoài sân để dự lễ tế tứ thôn. Cảnh rước các cụ Thượng trong lễ hội Tiên công xưa đã được dân gian mô tả như sau:

... Cờ bay ngũ sắc tứ bề

Quân cờ nữ tú chỉnh tề hai bên

Phường chèo ngũ lão bát tiên

Nam thanh chấp kích rước liền nối theo

Hương án trước, kiệu bành sau

Lọng vàng dán tía rước trầu dưới trên

Trống chiêng nổi hiệu tam nghiên

Cà rồng não bạt nổi lên song vần

Trống tam nghiên, nhạc bát âm

Tiền tam, hậu nhị bước chân nhịp nhàng

Hương thần kỳ lão hai hàng

Lọng xanh tán tía từng đoàn theo sau

Tráp đen, ống điếu, hộp trầu

Lưng đai trống khẩu theo hầu trang nghiêm

Đường quan dải đất chặt lèn

Tiền hô, hậu ủng loa truyền uy nghi

Biển đường câu đối hoành phi

áo xiêm tề chỉnh hương thân tế chầu.

Chọi gà, đánh vật, chọi trâu

Cờ người, bài điếm thi nhau đua tài

Thi nhau hát đúm trong ngoài

Non thề biển hẹn tình người thiết tha

Hội tan ai nấy về nhà

Ngày xuân ước hẹn đậm đà niềm vui

Tháng Giêng mở hội xong rồi

Trai vui thuyền lưới gái vui ruộng đồng.

(Trường ca sáng nghiệp ở Hà Nam)

 Khoảng 12 giờ trưa, đoàn tế của bốn thôn bắt đầu nghi lễ tế Tiên công. Ban tế tứ xã tế xong các cụ Thượng mới được vào miếu lễ Tổ. Người con trưởng thắp nhang (hương) để cụ Thượng lễ Tiên công. Thường mỗi cụ Thượng khi vào lễ đều được cụ tiên thứ chỉ của xã đọc một bài văn ngắn ca ngợi phúc đức tổ tiên, kể công lao của người thượng thọ và chúc cụ Thượng đó sống lâu, chúc dòng họ có cụ Thượng làm ăn phát đạt để có nhiều người được hưởng tuổi trời cho. Khi lễ Tiên công xong, gia đình được mang một phần lễ vật về, phần còn lại góp với xã khao dân làng. Sau tất cả các nghi lễ ở đền Tiên công, trình tự đoàn rước đưa cụ Thượng về nhà như khi đi. Rước vào đền Tiên công bằng đường bên phải, rước về bằng đường bên trái.

Nghi lễ động thổ: khi các cụ Thượng lễ Tiên công xong, hàng xã mời bốn cụ Thượng còn khoẻ ra trước cửa miếu Tiên công (bốn cụ Thượng đã được lựa chọn từ trước) làm nghi lễ "vượt thổ" (đắp đê). Dân làng đã đắp sẵn một con đê nhỏ tượng trưng ngay trước cửa miếu, các cụ Thượng được con cháu và dân làng đưa cho những tảng đất đã được xẻ vuông vắn để đắp lên "khúc đê" trước miếu. Đây gọi là lễ động thổ, sau lễ này các gia đình, làng xã mới được đào mương, bồi đê, cày cấy ruộng vườn, thậm chí những gia đình có người mất vào những ngày tết cũng phải chờ qua lễ động thổ này mới dám tổ chức lễ tang và đào huyệt. Nếu ai vi phạm, trong năm đó làng xã có xảy ra việc gì, sẽ bắt phạt.

Nghi thức đấu vật: sau khi làm nghi lễ "động thổ" (vượt thổ), các cụ Thượng tiếp tục thực hiện nghi thức "đất vật" (đấu vật tượng trưng). Các cụ Thượng quấn chỉ vào cổ tay nhau và ôm nhau quay một hai vòng, cụ nào khoẻ nhấc bổng cụ Thượng kia lên khỏi mặt đất sẽ là người thắng cuộc. Đây là cuộc "đấu vật" có một không hai trong các hội vật trong vùng Bắc bộ. Các cụ Thượng cởi trần đóng khố vào đấu trường trong tiếng reo hò động viên của nhân dân và đặc biệt là của đoàn cổ động viên là con, cháu, chắt và bà con trong họ. Các bô lão làm theo các bản quy định với các miếng võ thường lệ. ? lứa tuổi thượng thọ này, đủ sức để vào sới vật, dù là tượng trưng, đã là điều phi thường, vậy mà các bô lão còn giành hơn thua trên đấu trường, để giáo dục con cháu vừa lao động vừa sinh hoạt văn hoá. Các cụ thắng cuộc thì dòng họ và gia đình vẻ vang và biểu thị sự trường tồn, trường sinh của dòng giống.

Nghi thức đấu vật là để biểu trưng sức khoẻ của những người quai đê lấn biển, lập đất, lập làng, lập nên vùng đảo Hà Nam. Người dân ở đây cũng tin rằng, với nghi thức này, các cụ sẽ ban sức khoẻ cho con cháu.

Sau các nghi lễ tế tổ, nghi lễ động thổ đắp đê, nghi lễ đánh vật, các nghi thức và nghi lễ tế Tiên công xem như được hoàn thành. Các gia đình họ tộc rước cụ Thượng về nhà, thứ tự đoàn rước như lúc rước đi. Xung quanh khu vực miếu Tiên công, các trò chơi trong ngày hội được tổ chức từ chiều hôm trước vẫn được tiếp tục cho tới ngày mùng 7, ngày chính hội.

Cùng với nghi thức lễ tế Tiên công, xung quanh khu vực đền Tiên công diễn ra các hoạt động như: đấu cờ người, chơi đu, bài điếm, chọi gà, hát đúm và một vài trò vui khác.

Đánh cờ người: Chơi cờ người là thú vui của dân ta ngày xưa, thực chất là chơi cờ tướng. Đây là cuộc thử sức, thử tài, thử trí thông minh, nhạy bén của người chơi cờ. Ngày nay trò này vẫn được lưu truyền và được người dân ở đây hưởng ứng rất đông, không chỉ các cụ già, mà cả thanh niên nam nữ cũng rất thích trò chơi này. ? lễ hội Tiên công, trò chơi đánh cờ người được mọi người hưởng ứng rất sôi nổi. Bàn cờ là một khoảng sân đất được kẻ bằng vôi trắng như bàn cờ tướng. Một bàn cờ người gồm 32 người (nữ tú) đóng quân đỏ, quân đen, tướng ông và tướng bà, mỗi quân cờ ngồi trên một chiếc ghế con, bên ngoài có một người đánh trống, một người phất cờ và hai đối thủ. Quân cờ làm bằng gỗ, có cán dài do các cô gái trẻ trong làng cầm, họ mặc quần áo chỉnh tề bằng sa tanh, áo dài thắt đai lưng xanh, đỏ (hai đội hai màu khác nhau), trên đầu đội mũ tượng trưng cho quân cờ như mũ rồng tướng ông, mũ phượng của tướng bà, mũ cánh chuồn của các con "sĩ", trên ngực áo của họ còn in chữ Nho. Các quân cờ (xe, pháo, mã) được viết thành chữ trên mũ ống và trên ngực áo, các "quân" thì mặc quần chẽn, áo thắt đai lưng như lính, ngực áo viết chữ Tốt bằng chữ Nho màu đen, màu đỏ. Từ vài hôm trước đã có cuộc thi chọn tướng ông, tướng bà, nguời được chọn thường là hai cô gái xinh đẹp, nết na, thông minh nhất vùng, nhà không có tang trở. Mỗi bên bàn cờ đều có người đội khăn mỏ rìu, thắt lưng đai, đánh trống khẩu đi theo người chơi cờ. Thường các cuộc đấu diễn ra giữa các làng, xã với nhau chỉ một ván, giữa "tứ xã" sẽ chọn ra đội nhất, kết cuộc được thông báo cho toàn dân biết, ngôi vị được lưu danh đến kỳ lễ hội năm sau.

Chơi đu: Xưa người ta trồng nhiều cây đu bằng tre, trai gái thi nhau đua tài trên những cây đu đó. Người ta trồng một đến hai cây đu trên các thửa ruộng khô đã được làm phẳng ở ngay cạnh miếu Tiên công. Đây là bãi đánh đu thi giữa các đôi nam nữ của các xã. Các đôi nam, nữ cũng phải mặc trang phục của ngày lễ, trai mặc áo the đen, quần lương, đầu đội khăn xếp, nữ mặc áo tứ thân cùng váy chùng đen, đầu chít khăn mỏ quạ… Trong các vòng đấu, mỗi đội chỉ được diễn một lần, các vòng đấu nhỏ dần để ông trùm trò chọn ra những đội nhất, nhì, là những người đu bổng nhất, bay nhất. Thi đu rất hấp dẫn thanh niên nam nữ, do vậy trong cuộc thi đánh đu tiếng reo hò rất náo nhiệt.

Tổ tôm điếm: Người ta làm nhiều chòi cao, giữa các chòi nối với nhau bằng dây thép, người chơi bài ngồi trên chòi, cầm những quân bài tổ tôm được làm rất to phóng trên các dây thép để ăn hoặc không ăn, chơi theo nhịp trống thúc, ở dưới có ông giao bài vừa giao rất hay vừa gõ trống khẩu và xướng bài cho người chơi. Trò chơi này chủ yếu dành cho các cụ. Trò chơi này cũng đã thu hút được khá nhiều người đến xem, tuy không được náo nhiệt bằng một số trò chơi khác.

Chọi gà: Đây là một hoạt động khá náo nhiệt trong hội, vùng "tứ xã" xưa kia có những gia đình nuôi gà chọi rất giỏi, họ chuyên cung cấp giống gà chọi cho ngày hội cho nên trò chọi gà ở đây diễn ra rất sôi nổi. Tham gia trò chơi này chủ yếu là đàn ông, nhưng cũng có khá nhiều nữ thanh niên cũng tham gia hưởng ứng và cổ vũ. Những người tham gia trò chọi gà cũng đánh cá được thua với nhau và điều luôn luôn hồi hộp với họ là không thể dự đoán hết được những may rủi có thể đến với những chú gà của họ. Vì vậy, đối với mọi người, chọi gà trong ngày hội là trò chơi hấp dẫn nhất và lý thú nhất.

Đánh vật: diễn ra khá sôi động bởi tiếng hò reo, trống thúc. Trò đấu vật thường diễn ra giữa các đô vật đại diện cho các làng.

Hát đúm: các nam thanh nữ tú chưa lập gia đình, tụ tập thành từng nhóm, trai gái hát đối nhau. Không chỉ có riêng trai thanh, gái lịch của đảo Hà Nam mà trai ở Quảng Yên, Uông Bí, Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) cũng về hát đúm. Thường con trai của từng làng tụ tập thành từng nhóm hát đối với nhóm con gái của làng khác. Nội dung hát đúm thường là hỏi về quê quán, gia đình, nghề nghiệp, riêng tư tình cảm… Có những hội hát đối ứng giỏi có thể hát cả ngày, cả đêm, rất nhiều cặp vợ chồng nên duyên qua ngày hội này. Xưa kia thi hát đúm với người Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) cũng là một hoạt động hội khá nổi tiếng ở vùng này và thường kéo dài đến rất khuya. Họ tự hào là đã từng có những người hát đúm rất hay, đối đáp rất giỏi và nhiều lần dân "Tứ xã" đã hát đối thắng dân Thuỷ Nguyên. Ngày nay, hát đúm trong hội không còn được như xưa, hình thức văn nghệ dân gian này gần như không còn nhiều, chỉ còn lại là các cuộc hát nhỏ, lẻ tẻ của những người thường là trung tuổi) và đôi khi ở hội cũng có cả những cụ ông, cụ bà tham gia hát đối đáp. Còn lớp thanh niên nam nữ ngày nay hầu như không mặn mà lắm với loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian này. Tuy nhiên, vẫn còn có những người tâm huyết với hát đúm, đã bỏ công sưu tầm và in thành sách. Tuy số lượng bài hát đúm sưu tầm được in trong sách chưa nhiều, song nó cũng đã thể hiện được các nội dung: hát chào, hát gặp, hát hỏi, hát mời trầu, hát giao duyên, hát cưới, hát đi học, hát lính, hát gửi thư, hát sắm, hát chua và hát ra về.

 Ngày nay, ngoài các trò chơi trong lễ hội Tiên công, người ta còn tổ chức biểu diễn nghệ thuật quần chúng của địa phương trong buổi tối ngày hôm trước, sáng ngày chính hội và buổi tối mồng 7 tháng Giêng (giã hội).

Sau lễ hội Tiên công, dân vùng đảo Hà Nam mới thực sự bước vào mọi hoạt động của năm mới: cày cấy, gieo trồng, mua con giống, ra khơi đánh cá, bồi đê, khơi mương máng, đi buôn bán… và người dân ở đây thực sự tin rằng sau khi tế Tiên công, họ đã được phù trợ, được tiếp thêm sức mạnh để tiếp tục sự nghiệp mà các Tiên công đã để lại.

 Nguồn: phòng VHTT (đăng lại)