Nhà thơ Lê Duy Thái-một tác giả của NHÓM TAM HỮU THI CA bên sông Bạch Đằng –Hội VHNT Thị xã Quảng Yên-Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh-mới tiếp tục xuất bản tập thơ TIẾNG VỌNG CỎ XANH –NXB Văn Học 2012. Ngay khi cuốn đầu tiên của tập thơ tới tay bạn đọc, đã có nhiều dư luận đánh giá cao về nghệ thuật thi ca của tập thơ và sức viết thăng hoa của nhà thơ. Đây là tập thơ tác giả đã dồn nén, dành nhiều tâm huyết viết về cuộc chiến tranh Chống Mỹ cùng những tháng năm hậu chiến tranh với những nỗi niềm hạnh phúc, đau đớn, được và mất của Con Người. Có thể nói TIẾNG VỌNG CỎ XANH là tập thơ đầy cảm xúc. Đọc lên ta rưng rưng cảm xúc, động lòng trắc ẩn, buốt nhói từng câu chữ. Các bài thơ đã khai thác đến tận cùng cảm xúc. Qua đó vọng lên tiếng nói của Con Người lên án chiến tranh và khát vọng hòa bình. Hòa bình, nhân ái là bầu trời là cơ thể của cuộc sống nhân sinh.
GĐQ trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Đỗ Minh Tâm với vài nét cảm nhận về tập thơ này.

Cầm tập thơ “Tiếng Vọng Cỏ Xanh” của Lê Duy Thái -NXBVH–2012 trên tay, mở trang đầu thấy câu: Ta quỳ xuống bò bàn tay áp cỏ / Lòng run lên hương đất thì thầm... Tự nhiên tôi cũng run lên đến độ nổi da gà. “ Đất thì thầm” hay tiếng anh - nhà thơ Lê Duy Thái đang thì thầm với cỏ, với đất, với nỗi niềm da diết, khắc khoải của một người lính đã một thời xông pha trận mạc nơi chiến trường máu lửa... Trong tôi bỗng thì thầm da diết một câu thơ: “ đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ / Đáy sông còn đó bạn tôi nằm” (Thơ Lê Bá Dương). Câu thơ rưng rức đến quặn lòng người hôm nay và còn đau vọng đến mãi mai sau.

Chiến tranh là vô cùng khủng khiếp, nỗi sợ hãi và đau thương cho nhân loại. Từ trước tới nay các sử gia, nhà văn, nhà thơ đã viết nhiều về đề tài này. Nhưng những bài thơ về cuộc kháng chiến chống Mỹ, về sự hy sinh, gian khổ của người lính, về nỗi đau mất mát, khao khát đến tận cùng của con người khi hàng ngày cận kề với cái chết, khi “ giương lê / chĩa súng vào nhau”, tôi thấy thật mới lạ trong từng vần thơ : Tiếng Vọng Cỏ Xanh. Những câu thơ máu lửa, thấm đẫm tính nhân văn, đau đáu một sự thật, công bằng cho những người lính trên chiến trường, những người Mẹ, người vợ ở hai bên chiến tuyến. Để chúng tôi yên / Đừng mở sâu vết thương / Bao gia đình / Bao nhiêu bà Mẹ / Bao nhiêu người vợ / Không chỉ bên này / Còn phía “bên kia”/ Âm thầm nức nở / Chôn chặt nỗi đau mà không thể / Chiến tranh có tại họ đâu?!. (Lời Một Liệt Sỹ). Thật xúc động, bàng hoàng, mặc dù tôi cũng là người lính Giải Phóng Quân một thời xông pha lửa đạn, và mới thấy hết được giá trị của sự may mắn, hạnh phúc được sống sót trở về sau cuộc chiến. Bao bạn bè cùng ta ra trận / Bao người còn chưa biết mộ ở đâu / “Sống được đến tuổi này lợi quá” /Còn muốn gì?Đất nước lắm thương đau! (Vô Đề)
Lê Duy Thái là một cán bộ chính trị Quân Giải Phóng, nhưng cũng là người lính mặt giáp mặt với quân thù. Những vần thơ anh viết từ những cánh rừng khét lẹt mùi bom đạn. Từ chiến hào nhầy nhụa máu xương, giữa phút lặng yên của hai trận đánh, dưới cơn mưa rừng hành quân mang nặng và khi vuốt mắt cho đồng đội của mình. trong bài “ Kinh Hoàng” ta rùng mình thảng thốt: Cái đầu bom phạt lìa rơi / Lăn mấy vòng trên cỏ / Mắt mở trừng trừng!.../ Cái thân bất ngờ vụt dậy / Ngả nghiêng bỏ chạy / Đổ ụp... và thần khí chưa kịp bay ra anh Nhào theo/ Tôi ôm lấy đầu anh / Vuốt mắt / Nước mắt đẫm hai khuôn mặt / Mấp máy môi / Anh gọi: Mẹ ơi!. Thật tê tái những câu thơ chín nẫu trong anh. Lê Duy Thái đau lòng khắc khoải khi chôn đồng đội mà chưa biết tên: Tối về đơn vị / Nửa đêm nổ súng diệt đồn / Sớm mai đặt anh xuống mộ / Khấn anh ... chưa biết tên! ( Mộ Vô Danh). Tôi đã đọc truyện “ Tên Anh Chưa Có Trong Danh Sách” ở cuốn – Nơi Đây Bình Minh Và Yên Tĩnh của Nhà Văn Nga Boris VasiLyev nói về cuộc chiến tranh Vệ Quốc vĩ đại của Liên Xô . Người lính được điều về một đơn vị mới, đến đơn vị trời đã tối chưa kịp báo cáo với trực ban để vào danh sách thì đêm đó quân Đức tấn công vào pháo đài, người chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu đến cùng bảo vệ pháo đài khi đơn vị hy sinh hết và chưa ai kịp biết tên anh. Trong chiến trường điều ấy vẫn xảy ra.
Bây giờ lớp trẻ không biết cái rút dép như thế nào, cái mà không thể thiếu cho mỗi người lính ngoài mặt trận thời đánh Mỹ.
Thật thẳng thắn và chua chát trong bài ( Sau Chiến Thắng) – Tướng tá núp xe con / kiếm đủ thứ thị trường / Nói chiến trường vừa thắng trận / Lính tráng nhặt trong dân chiếc khung xe đạp hỏng / Ba lô tòong teng một ả búp bê vàng / Hớn hở chật đường...
Lê Duy Thái sinh ra ở vùng đất Nam Sách- Hải Dương lớn lên từ hương thơm rơm rạ mùa màng. Câu ca dao lục bát, lời ru của Mẹ của Bà thấm đẫm trong tâm hồn anh. Muôn năm hoa vẫn hồng hoa / Vầng trăng lục bát mẹ ta ru hời ( Lục Bát Hồn Sông) . Bờ tre, ruộng lúa, hương cau đã theo anh đi suốt chặng đường chinh chiến. Hồn thiêng Quê hương đã che chở cho anh để: Vị quê dẫn lối đi về / Mê say vấp ngã vào bờ sông trăng ( Vị Đồng Hương Bãi). Nơi quê ấy có mối tình quê ngọt lịm để suốt cuộc đời chẳng thể nào quên Tình ta bên đống rơm vàng / Đêm sao rừng rực mùa màng chở che / Mai đi biết có ngày về / Thương nhau em chả tiếc gì với nhau( Bên Đống Rơm Vàng).
Với tình bạn trong thơ Lê Duy Thái ( Những Bài Thơ Gửi Tặng Nhà Thơ Dương Phượng Toại) ta thấy anh là người rất trân trọng, quý mến, quan tâm đến bạn hữu và hiểu bạn, thương yêu sẻ chia rất đỗi chân tình Nếp xưa cửa lộng gió trăng / Tình thơ triều nổi hồn văn sóng ngầm/ Lắng nghe xa vọng rì rầm / Đáy sông xương trắng máu bầm phù xa! ( Thăm Bạn). Ở những bài Độc Tửu Chiều Mưa – Tiếng Thơ Thao Thức – Hai Nửa Vầng Trăng... có những câu cảm động đến rơi lệ Máu đào tưới gốc thương đời / Mầm yêu bật nở biếc chồi hồng hoa.- Sao em không nói một lời / Câu thơ nào giọt lệ rơi trong lòng/ Lặng ngồi thương nhớ cánh đồng/ Mảnh mai thân lúa gánh gồng hương quê. và nỗi niềm sẻ chia đến nao lòng Sóng xô cây đứng dầm chân/ Lòng sông ra bể trắng ngần hôm nay...
Tiếng Vọng Cỏ Xanh – Miền Xưa Trăng Khuyết – Lục Bát Riêng Nhau trong tập thơ của Lê Duy Thái cho ta thấy anh là một người chiến sỹ người Cộng Sản chân chính. Bằng cái tâm của người thi sỹ tài hoa, những câu thơ và cách nhìn mới mẻ mang đậm tính nhân văn, triết lý sống, triết lý Đạo Phật của anh trong chiến tranh, trong tình yêu, tình người đã mang đến một cảm xúc sâu lắng trong tâm hồn người đọc.
Đã là lớp người xưa nay hiếm, nhà thơ Lê Duy Thái vẫn nguyên vẹn niềm mê say với văn, thơ . sức viết của anh thật khỏe khoắn, dồi dào. Những tác phẩm liên tục ra đời. Anh như đang chạy đua với thời gian, để dâng cho đời bằng hết những sợi tơ lòng. Là một trong những cánh chim đầu đàn của văn học TX Quảng Yên miền quê sóng nước Bạch Đằng. Trong tốp dẫn đầu, cánh bay của anh vẫn đang lướt gió mà chưa hề biết mệt.
Xin chúc anh luôn mạnh khỏe viết tiếp những tác phẩm hay.
02/ 8/ 2012
Đỗ Minh Tâm
45- Trần Khánh Dư Phường Quảng Yên
TX- QUẢNG YÊN – QUẢNG NINH