Đình Hưng Học bắt đầu được xây dựng khoảng từ cuối thế kỷ XVII, ở vị trí gần chùa Hưng Học, đến năm 1841 mới chuyển đến vị trí hiện nay. Năm 1875 được xây dựng với quy mô lớn. Năm 1935 được trùng tu to lớn như ngày nay. Trong đình thờ hai vị thành hoàng là Đức Huyền Quang Lý Đạo Tái, vị tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm và Đông hải bản thổ Vũ Hoàng Đào làm thành hoàng làng trừ ôn dịch giúp dân Hưng Học.

Đình Hưng Học có kiến trúc nghệ thuật khá đẹp, trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: 6 đạo sắc phong, câu đối.. Năm 2012 được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch nhân nhận là di tích lịch sử văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia cấm xâm phạm.

Lễ hội: Hàng năm vào ngày 12 đến 15 tháng giêng năm âm lịch, nhân dân trong thôn Hưng Học lại tổ chức lễ đại kỳ phúc tại đình Hưng Học. Trong ngày lễ có nghi lễ rước tượng Huyền Quang Tổ Sư và tượng thần Phạm Bá Linh từ miều về đình cúng tế 03 ngày rồi lại rước về miếu.

Ban quản lý đình: ông Nam 01653607818


Ảnh đình Hưng Học:



Sự hình thành làng Hưng Học:

Khoảng cuối triều Lê Hồng Đức (1490 – 1497) có một nhóm cư dân của 4 dòng họ: họ Ngô, họ Phạm Văn, họ Đặng, họ Phùng ở vùng Tả Quang, Chí Linh đến khai khẩn vùng đất cao phía tây bắc xã Hải Triều, lập nên một làng mới. Theo nhân dân trong vùng kể lại, khi mới thành lập nhân dân lấy tên Huyền Quang, tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm đặt tên cho làng để lưu niệm danh nhân nơi quê cha đất tổ, sau vì kiêng húy Huyền Quang nên gọi là làng Quan, sau đổi thành làng Hương. Đến đầu triều Nguyễn, làng Hương đổi tên là Hưng Học. Làng Hưng Học gồm các họ: họ Hoàng, họ Đỗ, họ Vũ, họ Lưu, họ Phan, hai họ Nguyễn Văn, họ Nguyễn Đức, họ Phạm Văn, họ Đặng, họ Đoàn, họ Hoàng Đức. Đó là các dòng họ quê chủ yếu ở Hải Dương, Nam Định, Hà Đông đến đây lập làng.

Sự tích Huyền Quang Tổ Sư

Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay là làng Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Học giỏi, năm lên chín tuổi đã biết làm thơ văn, chuyên tâm học tập, nổi tiếng giỏi thơ văn, đỗ cả thi hương, thi hội. Ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi năm 1272 (hay 1274?) và được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau này từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Khi Pháp Loa viên tịch, ông được suy tôn làm Đệ tam tổ, giữ y bát của Thiền phái Trúc Lâm tiếp tục sự nghiệp đi giảng thiền học cho giới tăng ni Phật tử trong nước và giảng giải giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm trong các thiền viện. Huyền Quang là vị tổ đạt đến bậc giác ngộ cao siêu của tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.

Là một Thiền sư Việt Nam, tổ thứ ba dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ông còn là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân TôngPháp Loa, ông được xem là một Đại thiền sư của Việt Nam và người ta xem ông và Trần Nhân Tông, Pháp Loa ngang hàng với sáu vị tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Ông viên tịch, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.

Các cụ cao niên ở làng Hưng Học kể lại: Dân làng Hưng Học thấy sự linh thiêng của Tam Tổ Huyền Quang Lý Đạo Tái, bèn xin chân hương và thần tích của ngài ở chùa Côn Sơn Hải Dương về thờ ở đình làng, tôn ngài làm Thành Hoàng của làng. Xin xá lỵ Ngài về xây tháp mộ tổ Huyền Quang ở khuôn viên chùa làng Hưng Học (gần đình Hưng Học) để nhân dân trong làng đời đời hương khói.

Sự tích thần Vũ Hoàng Đào

Cụ Vũ Hoàng Đào là thế tổ đời thứ năm của dòng họ Vũ ở Hưng Học. Theo gia phả dòng họ, họ Vũ Hưng Học có truyền thống khoa bảng, Cụ học cao thi đỗ Quận Công. Ngày cụ về vinh quy bái tổ đã thác ở sông Rút và hiển linh thành thần Đông Hải, một vị thần biển phù hộ cho dân làng Hưng Học đi sông đi biển được an lành. Ngài còn có khả năng trừ ôn dịch cứu dân. Dân làng Hưng Học đã tạc tượng và lập miếu  thờ Ngài ở gần nơi ngài thác. Miếu ấy vẫn còn đến ngày nay, dân địa phương gọi là Miếu Chính Phủ ở gần cống kéo qua đê của làng. Thần được vua Khải Định phong làm thần Đông Hải, là Bản Thổ thành hoàng Trung đẳng thần, là Thông minh Hình tướng, là thần trừ ôn dịch cứu dân. Người dân Hưng Học tôn thần là đệ tam Thành Hoàng. Mỗi lần đi sông đi biển đánh cá hay đi thuyền vận tải, dân làng đều vào miếu Chính Phủ thắp hương cầu khấn rất linh nghiệm. Khi dân làng bị dịch bệnh đều có lễ cầu Đức Đông Hải đệ tam Thành Hoàng thì đều tai qua nạn khỏi rất linh nghiệm. Vua Khải Định đã phong cho thần là Thông minh, Hình tướng, Thần trừ ôn dịch giúp dân. Khi dân làng Hưng Học tổ chức lễ hội Đại Kỳ phúc hàng năm ở đình Hưng Học đều cúng phối hưởng thần Vũ Hoàng Đào. Hiện ở đình Hưng Học còn thờ một đạo sắc phong của vua Khải Định năm thứ 2 phong Đức Đông Hải Vũ Hoàng Đào làm Thành hoàng bản cảnh của làng Hưng Học.

Sự tích thần Phạm Bá Linh (Phạm Nhan)

 Truyền thuyết ở làng Điền Công và làng Hưng Học ở huyện Yên Hưng kể rằng: trong Chiến trận Bạch Đằng 1288, quân sỹ nhà Trần đã bắt sống tướng giặc Nguyên là Phạm Nhan, tự là Bá Linh. Thần cha Bắc, mẹ Nam, từ nhỏ theo học pháp sư có tài hô phong hoán vũ, chém đầu này mọc đầu khác, khi trói có thể thu mình nhỏ lại và thoát ra ngoài. Thần được vua Nguyên cho đi theo đoàn quân của Ô Mã Nhi để động viên khích lệ quân tướng giặc Nguyên. Được thần linh báo mộng, nên khi bắt được Bá Linh, Trần Hưng Đạo sai đem chỉ ngũ sắc ra trói thì Bá Linh sợ khiếp vía. Lại sai quân lính bôi cứt gà sát và bồ hóng và lưỡi kiếm để chém đầu thì biết không thoát được đoạn kiếp này, Bá Linh bèn cầu xin Trần Hưng Đạo được chặt làm ba khúc, một khúc vứt xuống sông, một khúc vứt lên bờ, một khúc vứt lên rừng để được đầu thai sang kiếp khác. Trần Hưng Đạo ưng thuận cho chém Bá Linh làm ba khúc để răn đe quân tướng giặc Nguyên. Khúc chân vứt lên rừng biến thành vắt, khúc thân vứt lên bờ biến thành muỗi, khúc đầu vứt xuống sông trôi về gò đất thôn Hưng Học biến thành đỉa, đều là những con vật hút máu người.

Trong Đình Điền Công xã Đền Công huyện Yên Hưng có bản thần tích bằng chữ hán kể lại sự tích chém Bá Linh như sau: “Cổ truyền, sông nư­ớc sơn xuyên xứ sở ở thế lợi hại nh­ư đôi mắt thần. Khúc Giang trư­ớc khi có miếu là một quán hàng cơm. Chủ quán là một thôn nữ có nhan sắc đẹp, tính hạnh đoan trang, lại tài đảm linh lợi khác thư­ờng. Vì thế trong vùng ai nấy cũng trọng, gọi là “Bà quán”. Chứ tên họ là gì, ng­ười gốc gác ở đâu thật ra không ai biết cả.

Khi ngư­ời Nguyên sang xâm lư­ợc nư­ớc ta, Bà quán đư­ợc Hư­ng Đạo Vư­ơng tin cậy, giao cho theo dõi các đạo thuyền binh và mọi bề động tĩnh của quan quân người Nguyên trên tuyến sông. Một hôm có một ngư­ời cao lớn, ăn vận binh phục màu xanh, tư­ớng mạo trông như hùm beo. Ngư­ời khách lạ ghé vào quán gọi rư­ợu và thức nhắm. Bà quán dò hỏi tên tuổi cùng quý chức thì đư­ợc biết người khách lạ ấy là tư­ớng Bá Linh, Cha ng­ười phư­ơng Bắc, mẹ ngư­ời Nam, sinh ra ở đất Nam, lớn lên thì Bá Linh quay về phư­ơng Bắc xung vào quân ngư­ời Nguyên để tiến thân. Vua Nguyên là Hốt Tất Liệt nắm đư­ợc lai lịch của Bá Linh nên rất tin dùng phong cho làm tư­ớng quân để phù tá con trai là Thoát Hoan đốc binh sang đánh Nam Việt. Tiếp rư­ợu cho khách đã uống ngà ngà, nữ chủ quán mới lựa lời vừa ca tụng vừa thăm dò: Tư­ớng quân tài ba hiển hách, binh pháp l­ược thao gồm đủ, hẳn ngài đa môn túc phép nhiệm mầu, Khách lạ thích chí phô trư­ơng: ta đây có đủ năm phép thần thông biến hoá. Ng­ười đang to lớn bỗng thu nhỏ lại, không dây dợ nào trói đự­ơc ta, ta có hàng trăm cái đầu, chặt đầu này ta lại mọc đầu khác, Nữ chủ quán đế thêm: Oai linh nh­ư tư­ớng quân làm chi có kẻ nào dám động đến chân lông, há sợ ai hạ thủ. Khách lạ đư­ợc thể khoe khoang: muốn trói ta phải trói bằng chỉ ngũ sắc thì ta mới không biến hình. Muốn chặt đầu ta thì phải có vôi tôi với phân gà sáp và bồ hóng bếp bôi lên lư­ỡi kiếm thì đầu ta mới đứt hẳn. Nữ chủ quán lại vuốt ve: Hiện thời tư­ớng quân chỉ huy chiến thuyền nào? cho tiện thiếp đây đư­ợc đến nơi hầu hạ có đư­ợc hay chăng? Khách lạ chỉ tay nhằm chiếc đại thuyền lớn nhất đang đậu ở dưới bến sông mà nói: Nàng chư­a vội, hiện trên đó còn có Nguyên Suý Ô Mã Nhi. Thế là ngay hôm đó, tin tức đã kịp báo về Hư­ng Đạo Đại Vư­ơng. Không bao lâu thì trận Bạch Đằng. Đoàn thuyền chiến của ngư­ời Nguyên sa cả vào bãi cọc ngầm của ta đã bày sẵn. Tầu thuyền họ vỡ tan tành. Ngư­ời họ chết vô kể, thây trôi nh­ư cỏ rác. Máu đỏ sông Bạch Đằng. Quân ta nhẩy lên đại thuyền chỉ huy của họ, bắt sống Nguyên Soái Ô Mã Nhi và tuỳ tư­ớng Bá Linh. Hư­ng Đạo Vư­ơng sai lấy chỉ ngũ sắc trói Bá Linh. Nhìn thấy vôi tôi với phân gà và bồ hóng đã bôi sẵn trên l­ưỡi kiếm của Hư­ng Đạo Vư­ơng thì thần sợ run bần bật, vội kêu xin: Hãy chém tôi thành ba đoạn. Đoạn đầu vứt xuống sông, đoạn giữa ném lên bờ, đoạn cuối quẳng vào rừng để cho sau này tôi còn có đư­ợc kiếp khác. Hư­ng Đạo Vương thể lòng theo sự cầu ấy để thần đầu thai thành muỗi, vắt, đỉa”.

Một năm, dân làng Hưng Học bị dịch bệnh, nhiều người bị chết. Dân làng mộng thấy Thần hiện về yêu cầu dân làng thờ cúng thì hết bệnh, dân làng hỏi khi cúng dùng lễ vật gì? Thần nói: cúng máu sản phụ. Dân làng bèn làm một ngôi miếu thờ, chỉ thờ một cái mũ tượng trưng cho đầu của Phạm Nhan và một đôi hia. Dùng nước lá vông đỏ như máu và cỗ bàn để cúng tế, thì thấy hết bệnh dịch. Từ lâu những người con gái khi sinh nở đều phải kiêng không dám đi qua miếu thờ thần, khi con được đầy tháng bà mẹ thường có lễ vật và bát nước lá vông làm lễ ở miếu thờ thần để đứa trẻ được thần che chở mát mẻ mạnh khỏe. Tục thờ Phạm Bá Linh ở làng Hưng Học có từ đó. Trong lễ đại kỳ phước vào dịp rằm tháng giêng, dân làng rước mũ thần Bá Linh cùng với Huyền Quang Tổ Sư về đình Hưng Học tế lễ, để đức Huyền Quang Trúc Lâm tam tổ giáo hóa thần Bá Linh mà phù hộ dân làng.