Di tích miếu Phạm Tử Nghi tại Cống Lưu Khê, xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh là di tích lịch sử thờ đức thánh Phạm Tử Nghi, một vị tướng có công đánh giặc ngoại xâm phương bắc, thế kỷ XVI. Nhân dân xóm 6 xã Lưu Khê thờ thần PHạm Tử Nghi làm thành hoàng.
Ngày lễ: Hàng năm vào ngày 13 và 14 tháng 9 âm lịch là ngày giỗ của đức thánh Phạm Tử Nghi, nhân dân trong xã và khu vực tổ chức tế lễ đức thánh. Ngoài ra vào ngày 23 tháng chạp, ngày 30 tết nhân dân trong xã đều tới miếu lễ đức thánh. Người dân trong xã trước khi đi sông, ra biển đânh bắt hải sản hoặc ra khơi đi vận tải đều có lễ vật vào miếu lễ đức thánh, cầu xin đức thánh phù hộ cho chuyến ra khơi an lành, bội thu rất linh ứng. 
Lịch sử hình thành 

Người dân thị xã Quảng Yên từ lâu đời gắn bó với biển và sông ngòi, do vậy người dân Quảng Yên có tục thờ thần biển. Theo truyền thuyết thần Phạm Tử Nghi còn được thượng đế phong là “Đại Hải chi thần” tức thần biển. Do vậy từ cuối thế kỷ XVII xã Lưu Khê, xã Vị Dương, xã Vị Khê, xã Hải Yến, xã Quỳnh Biểu, xã Động Linh của huyện Yên Hưng xưa (nay là thị xã Quảng Yên) đều lập miếu thờ Phạm Tử Nghi. Cuối thế kỷ XVII nhân dân xã Lưu Khê xây dựng miếu thờ Phạm Tử Nghị ở khu vực cống Lưu Khê, nơi nhân dân thường kéo thuyền ra sông đi biển. Theo truyền thuyết, trước khu đi biển, nhân dân vào miếu làm lễ cầu xin yên lành rất linh ứng. Ngày 16/9/1955, mưa bão nước lụt phá vỡ đê Hà Nam, ngôi miếu bị hỏng sập, nhân dân đưa tượng thờ về thờ tạm trong đình Lưu Khê. Tháng  8 năm 2013 nhân dân thôn Lưu Khê xã Liên Hòa xin phép thị xã phục dựng lại ngôi miếu ngay trên nền cũ thuở xưa.
Hiện nay, tại Miếu thờ còn lưu giữ tượng thờ Phạm Tử Nghi và sắc phong  thời Nguyễn.

Toàn cảnh Miếu Phạm Tử Nghi


Tượng thần Phạm Tử Nghi  tại Miếu

Nhân vật lịch sử:    

Theo thần tích còn lưu giữ ở đình Hải Yến phường Yên Hải, “Thần Phạm Tử Nghi nguyên là người Nghĩa Xá, họ Phạm, húy Thành, tự là Tử Nghi. Xã Nghĩa Xá nay đổi thành ba xã Vĩnh Niệm, Niệm Nghĩa và Đôn Nghĩa, huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng.  Xã Niệm Nghĩa trông coi lăng tẩm của ngài, xã Đôn Nghĩa trông coi phần mộ, xã Vĩnh Niệm trông coi vườn đất của ngài để làm chính đền. Ngài sinh vào năm Hồng Vũ, là một người hiếu học, thông thạo sách kim cổ, văn võ toàn tài, khỏe mạnh hơn người. Một hôm người nói với người trong làng rằng “Ta muốn vãng du lên kinh kỳ, nhân tiện mang tiền thuế lên nộp”. Đến Bến Đông, ngài thấy quân lính triều đình tới 200 người đang khiêng 1 cây gỗ lớn, bèn bảo rằng: “Kẻ trượng phu này có thể 1 mình vác được”. Quan khâm sai nghe vậy lấy làm lạ liền tâu lên Quốc Vương nếu chuyển được cây gỗ đó sẽ trọng thưởng. Ngài phụng mệnh, vác cây gỗ đến đặt trước ngự tiền (trước cung điện nhà vua). Cây gỗ đặt xuống làm đất rung, trời động. Mọi người đều rất đỗi kinh ngạc.

Trong dân gian thần Phạm Tử Nghi có sức khỏe hơn người, học một biết mười, văn võ toàn tài, trung với nước, hiếu với cha mẹ, là một danh tướng mỗi khi nhắc đến quân xâm lược phương Bắc đều nể sợ.

Nhân sự kiện đó, Quốc Vương sai các quan văn võ truyền hịch thi tài nghệ. Mọi người đều kính nể tài nghệ của ngài bèn tâu lên Quốc Vương xin thăng quan cho ngài. Nhưng có người cho rằng ngài có sức lực hơn người, văn võ không ai sánh kịp mà lại chưa qua khoa cử, ắt hẳn là người có chí tranh trời cướp nước, xin giết đi để khỏi đem họa về sau. Quốc Vương không nghe vẫn ban thưởng cho ngài, phong làm đại tướng quân và gả công chúa cho. Sau đó ngài đã luyện tập võ nghệ tinh thông và đấu thắng ba con voi. Vốn tính trung thành ngài được Quốc Vương quý trọng. Khi Quốc Vương qua đời đã di chúc lại giao ấu chúa cho ngài giúp đỡ lo chính sự. Bấy giờ Quốc Vương nguyên hiệu là Trung Chính, thời Đại Trị. Nhưng trong triều thần có kẻ bàn rằng: “Nguyên soái là người có tài kinh bang tế thế, vạn người không địch được, có dũng mà không phải người khoa trường văn võ, lại được trọng dụng vậy. Nay chúa còn nhỏ, quốc gia lâm nguy, đó không phải phúc cho xã tắc”. Bèn lệnh cho ngài về triều mà nói rằng: “Nay hai vị hoàng tử đã trưởng thành, xin sắc phong làm vua kế vị” liền lập hai vị hoàng tử làm Tây Phiên Vương, chưa đầy 1 năm sau, Trung Chính bị bệnh qua đời.

Thần liền dâng biểu tâu lên Tây Phiên Vương, xin trở về để chấp chính và tâu rằng: “Thần là kẻ bất tài, đã phụ lời ủy thác của tiên đế, không thể bảo vệ được Tự Vương, xin trở về chấp chính”. Triều đình vui mừng, bách quan phủ dụ thần dân. Tiểu thần vô sự đa bệnh xin lấy quân binh bản bộ tiến đánh lấy lại Quảng Đông, Quảng Tây để khôi phục lại đất cũ quốc gia, rửa nhục trăm năm. Đó là ý nguyện của thần.

    Rồi ngài bái tạ trở về xứ Hải Đông chuẩn bị chiến thuyền tiến đáng Lưỡng Quảng. Khi đó nước Trung Quốc sai sứ giả mang trát đến nước ta trách rằng: “Tiểu quốc An Nam phản phúc xâm chiếm Trung Quốc”. Ngài bèn nói với sứ giả rằng: “Mã viện nhà Hán vô cớ xâm chiếm cố địa tổ tông An Nam, ta là tướng soái bản quốc, chức phận của ta phải như vậy. Ngươi hãy về cấp báo với chủ ngươi rằng muốn hòa thì đừng xâm chiếm đất của nước ta nữa, ta sẽ án binh bất động. Còn muốn chiếm thì xuống Giang Nam mà bài binh bố trận, quyết chiến 1 phen”.

    Lại nói ngài sai người về kinh đô báo tin. Quốc vương sai sứ giả mang sắc phong ngài làm Tứ Dương Hầu, chiếu cho làm Nam Dương Đông nguyên soái tổng kiêm lưỡng quốc tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh, phò mã Đô úy, Thái úy Thánh Quốc Công. Sau đó, thần chấn chỉnh binh mã thủy bộ, xe thuyền tiến thẳng đến Nam Kinh nhậm chức rồi dẫn đại binh các lộ, chư hầu đến yết kiến. Giữa đất bằng mà ngài đi thuyền, hô gió, gọi mưa, làm phép xa trận. Bỗng nhiên cột buồm gẫy, giữa đất bằng mà thuyền đi lại, vút lên không, biến vào chỗ không người, sát khí đầy trời. Chư quốc anh hùng không tìm ra địch thủ. Ngài đã toàn thắng, đến chém đổ cây cột đồng do Mã Viện lập, nay dấu tích vẫn còn. Sau đó ngài trở về trấn giữ Lưỡng Quãng. Nước Trung Quốc từ đó không có ý đối địch nữa, nhưng lại sai chiến thuyền phi nhanh đến đất cũ của ngài là Nghĩa Xá, bắt mẹ thần mang về Bắc Quốc, lại sai sứ giả mang thư đến trách vua nước Nam, cho gọi Tứ Dương Hầu về gấp đầu hàng, có vậy mẹ con mới được gặp nhau. Triều đình nước Nam cho sứ giả đi, phong cho con cháu tộc họ. Lúc đó, có người ở đạo Kinh Bắc muốn được thay thế. Bắc Quốc biết là man trá nên không thuận cho.

    Thần vội cho sứ giả về báo rằng: Bắc Quốc đã hòa giải, thế là từ nay về sau không xâm chiếm Lưỡng Quảng. Ta thân chinh đến hàng để chuộc mẹ ta. Nếu không đúng lời ước, sẽ quyết một phen cử đại quân đến Nam Kinh giao chiến để rửa hận. Sứ giả về tâu với quan trên. Quan y thuận. Vào năm Tiên Hưng, ngài ra hàng, muốn dùng lễ mà đối với tướng thần, ngài bảo rằng: “Ta vâng mệnh chúa công ta vào Trung Quốc cai trị trăm họ, không may bị kế gian, việc không thành, có chết cũng chẳng nghĩa lý gì. Nhưng ai lại chém đầu người không còn vũ khí nữa”. Quan trên nghe vậy tức thì nổi giận đem ngài ra chém ngay, bên đầu, đốt xác, tung tro vào gió bụi. Khi ấy nhân dân bị bệnh dịch, trâu ngựa chết vô kể. Ngài liền hiện lên đánh vị quan kia ngã vật xuống đất, thổ huyết rồi bảo: “Người muốn được yên ổn thì đem đầu ta đặt vào  cái quan, trong bằng sắt ngoài bằng đá, rồi thả xuống suối cho trôi về nước ta, phong cho ta là lưỡng quốc thượng đẳng thần đại vương. Phàm hai nước có sông phân chia duyên cách, cho lập miếu thờ ta hai bên sông”.

    Xác ngài trôi từ thượng lưu xuống hạ lưu, dạt vào một cái chằm, thấy có ngư thuyền, lập tức có tiếng hô: “hãy đưa ta lên thuyền”. Sau 1 đêm vào ngày 14 tháng 9, thuyền cữu của ngài về đến bến sông quê cũ, bỗng nghe 1 tiếng hô to. Dân làng kinh hoàng, vội đổ ra rước quách đá lên táng tại lăng. Từ đó về sau đều rất linh ứng, qua các triều đều được phong sắc, ban lệ thờ cúng, hàng năm đều có quốc tế (tế lễ quốc gia, do quan triều đình chủ trì)”.

    Theo sử sách thì Tử Nghi là một nhân vật có thật. Ông là một võ tướng thời Mạc tên húy của ông là Phạm Thành, tên chữ là Tử Nghi. Người xã Trung Hành, huyện An Dương, trấn Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng). Ông được sinh ra trong 1 gia đình lao động nghèo, nhờ có trí dũng thông minh, học rộng hiểu nhiều nên đã trở thành Tứ Dương Hầu của triều đình nhà Mạc. Năm 1546 vua Mạc Phúc Hải chết, Mạc Phúc Nguyên lên ngôi. Vì vua còn nhỏ tuổi chưa am hiểu việc triều chính nên không giải quyết được sự bất đồng trong quan điểm về đường lối chống giặc ngoại xâm. Năm Đinh Mùi 1547, Phạm Tử Nghi mưu lập Hoằng vương Mạc Chính Trung, con thứ của Mạc Đăng Dung làm người nối ngôi họ Mạc nhưng các thân vương trong họ và đại thần của họ Mạc lại mưu lập Phúc Nguyên. Việc không thành nên Tử Nghi đã đưa Chính Trung về xã Hoa Dương huyện Ngự Thiên (sau đổi là xã Trác Dương, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) để hoạt động độc lập, không đi theo con đường của nhà Mạc. Tướng Mạc là Mạc Kính Điển cùng với Tây quận công Nguyễn Kính đem quân đi bắt bị Tử Nghi đánh bại. Về sau, Tử Nghi đánh mấy lần không thắng, bèn đưa Chính Trung ra chiếm cứ miền Yên Quảng (vùng ven biển Quảng Ninh) và đánh chiếm cả sang vùng Quảng Đông, Quảng Tây của nhà Minh. Nhà Minh không kiểm soát được đã trách triều đình nhà Mạc là phiên thần vô lễ, dung túng “bọn cướp” sang lấn cướp “đại quốc” nên sẽ phải đem quân sang hỏi tội để tránh khỏi hấn khích nơi biên giới. Bấy giờ, nhà Minh định đem quân sang, nhà Mạc rất sợ. Năm Tân Hợi (1551) nhà Mạc sai Phạm kích Điển đốc quân đi đánh Mạc Chính Trung và Phạm Tử Nghi ở Yên Quảng. Lần này đã lừa bắt được Tử Nghi đưa về kinh chém đầu gửi sang nước Minh. Nhưng hễ  đưa tới đâu là ở đó sinh dịch bệnh, làm chết nhiều người và súc vật nên người Minh phải trả lại. Sau khi Tử Nghi chết, nhiều làng ven biển lập đền thờ ông, các triều đại phong kiến đều phong thần.