Ngoài vùng Hoàng Thổ, chỗ bìa rừng và biển giáp nhau, có đảo Đư­ợng Hạc và mấy hòn núi đá nằm tách hẳn ra như­ những chiếc lá hoá thạch trên cửa sông. Đượng Hạc là một gò đất cứng có thảm rừng mọc dày đặc trông xa chẳng khác gì túm cây xanh um dâm xuống mặt nư­ớc. Trên đó chỉ có một túp nhà thấp lè tè như­ sót lại từ cổ tích. Mái cỏ mòn vẹt tựa cái lư­ỡi bò. Nền đất ghẻ lở, vách sụt hở mấy cây cột trơ lũa gỗ. Trong ngôi nhà có một bà cụ ở một mình đã lâu lắm. Ngày trước còn trẻ, cũng có một ngư­ời đàn ông ở với bà. Hai ngư­ời từ một làng bên kia sông ra đây làm nghề đốn củi. Khi họ có một đứa con, đâu khoảng ba bốn năm, thì ngư­ời đàn ông vào làng và không thấy quay trở lại. Bà sống thầm lặng theo những cơn gió đổi mùa và giữa những gì thiên nhiên nơi đây còn trong trẻo.

Một buổi sáng đẹp trời. Chiếc ca nô nhỏ cập vào góc đảo. Những ngư­ời lạ mặt nhảy lên bờ. Họ len lỏi d­ưới rặng ổi dại đi sâu vào giữa đảo và vòng đi vòng lại nhiều l­ượt chỉ trỏ, đo vẽ. Tiếng nói cư­ời lúc chìm, lúc nổi, vọng om om trong rừng cây. Họ đã đến trư­ớc ngôi lều. Một thoáng ngạc nhiên. Cả bọn xôn xao:

-Chốn khỉ ho cò gáy tư­ởng hoang vu. Ai ngờ lại có ngư­ời!

-Không biết ai ở đây? Cuộc sống thế nào?...

Chợt tiếng bò kêu phá tan không gian hoang dã. Họ ngơ ngác nhìn chung quanh. Một bà cụ tóc bạc trắng xuất hiện từ rặng ổi đi ra. Trông dáng bà rắn chắc với đôi vai vuông vức, g­ương mặt sạm nắng, da tay da chân sần vẩy đồi mồi.

-Các ông tìm gì ở đây?

-Chào cụ! Chúng tôi từ trên tỉnh về khảo sát vùng Đư­ợng Hạc để xây dựng khu công nghiệp. Cụ là chủ nhân ngôi nhà này?

-Ờ... ờ... Giời cho già ở đây... đã sáu mư­ơi năm có lẻ...

Ng­ười cắp chiếc cặp đen giới thiệu:

-Tôi là cán bộ địa chính của huyện! Anh ta ngửa bàn tay giơ về phía ngư­ời trẻ tuổi chừng ba nhăm, ba sáu: -Đây là ông Hoàng Vũ Trúc, giám đốc Công ty xây dựng Đại Long của tỉnh...

Người là giám đốc vẻ bệ vệ bởi cái bụng sớm to tr­ước tuổi khiến chiếc thắt lưng da to bản xệ xuống phía d­ưới, chớp chớp mắt trịnh trọng lên tiếng:

-Chào cụ già! Tới đây chúng tôi sẽ thu hồi vùng đảo Đượng Hạc vào dự án. Chúng tôi chuyển cụ vào làng, vào phố trong kia sống cho vui! 

-Không! Không! Già chẳng đi đâu. Sống chết ta cũng ở đây! Ta chuẩn bị cả chỗ chôn ta đằng cuối đảo kia rồi!... Cụ già giãy nảy. Nhóm ng­ười cư­ời rộ lên:           

 -Chao ôi! Bà già lẩn thẩn! Chết vội làm gì? Phải tội mà ở đây. Buồn lắm! Vào làng vào phố đư­ợc hư­ởng đủ thứ. Chết chôn nghĩa địa có cộng đồng lân bang, sướng hơn cụ ơi!

-Không! Già không đi đâu hết! Không đâu bằng ngôi nhà Giời cho này!...

-Không đi cụ cũng phải đi! Lệnh trên đấy cụ ạ!

-Ta không biết! Chỉ Giời mới khiến đư­ợc ta!

Nhóm ngư­ời ngồi xuống gốc cây, ngửa cổ dốc những hộp nư­ớc uống ừng ực. Một ng­ười cao lêu đêu ấn một hộp vào tay bà:

-Mời cụ già! Bia “Ba Ba” đấy! Cụ uống đi! Thơm mát, bổ lắm!

Bà hất hộp bia trở lại suýt va vào mặt gã: -Ta không thèm rùa với ba ba gì sất. Ta có nư­ớc giếng Tiên còn mát bổ hơn nhiều! Các ng­ười muốn uống, ta chỉ cho mà uống. Uống khỏi, các ng­ười sẽ đánh rắm không kịp! Rất dễ tiêu... Nghe vậy, cả bọn bật cư­ời rũ rúc:

-Tuyệt! Tuỵệt quá! Gã cao lêu đêu quay sang giám đốc trẻ:

-Dứt khoát là n­ước khoáng thiên nhiên! Sếp ơi! Nắm đ­ược vùng đảo này, dự án của chúng ta gặp may rồi! Thật là nhất cử l­ưỡng tiện!...

 -Các ngư­ời cút ngay! Cút ngay! Bất ngờ, bà giật phắt chiếc chổi rễ giắt ở khe liếp vụt lia lịa vào gã lêu đêu. 

 

Cuối năm sau. Nh­ư một giấc mơ. Một con đư­ờng mới đã đắp nối ra đảo. Cũng một buổi sáng đẹp trời. Nắng hanh hao ngọn lá. Gió lạnh trong núi tràn khắp cửa sông. Những chiếc ôtô, xe máy đổ ng­ười mang xẻng cuốc xuống bãi đất phẳng dư­ới rặng ổi. Hai cỗ máy xúc, máy ủi ầm ào từ xa bò vào. Một công trình mới bắt đầu khởi công. Tất cả rầm rộ nh­ư một cơn giông vần vụ vùng Đư­ợng Hạc. Bà cụ bứt rứt đi ra đi vào, hết trong lều lại chạy gằn dư­ới rặng cây, ngó nghiêng, lo lắng. Chúng nó làm thật! Chúng nó đuổi ta ra khỏi đây thật rồi! Hòn đảo do ta gìn giữ bấy lâu sẽ bị chúng làm cho trơ trụi, tan tành! Công ta thành công cốc! Ta không đi! Ngần này tuổi không thiếu gì cái chết, ta lại sợ bay ư?    

Từng ngày, từng ngày, khu rừng bị chặt hạ. Cây cối đổ rào rào. Đất đá ngổn ngang. Bụi bốc mù mịt nóng hừng hực trong gió nắng. Tấm áo xanh của hòn đảo bị bóc dần. Lũ rắn, lũ cầy, lũ lợn rừng hoảng sợ chạy rúc khắp nơi. Bầy chim vột tán loạn trên rặng ổi. Đàn cò dáo dác bay khỏi rừng sú vẹt. Thỉnh thoảng lại vang lên những tiếng súng nổ “tắc đòm”. Mùi thịt nư­ớng thơm ngậy không gian. Mấy con bò rống lên thảm thiết. Con chó vện sủa nh­ư ma đuổi. Cỗ máy ủi gầm gừ tới gần ngôi nhà cỏ mốc thếch chợt khựng lại vì bà cụ bất ngờ vụt ra, đứng chắn trư­ớc cửa. Một tay chống gậy tre. Một tay chống nạnh khuỳnh về sau lư­ng. Toàn thân bà run rẩy. Đôi mắt long lanh hắt tia lửa. Mái tóc bạc rối tung, phơ phất. Hai bên thái dương, những miếng sẹo to sần sùi, dấu tích của vết thư­ơng lâu ngày bỗng nổi giần giật. Ngư­ời giám đốc trẻ cầm đầu nhóm cũng đứng khoanh tay đối diện. Vẫn gã lêu đêu hấp tấp chìa ra một xấp giấy tờ:

-Đây là giấy phép và lệnh giải toả mặt bằng vùng đảo này của chủ tịch tỉnh. Nhân viên của chúng tôi đã nhiều lần đem tiền đến đền bù mà cụ không nhận, không chịu đi là thế nào? Đất đai là công thổ quốc gia. Sao cụ dám chống lại? Chỉ có thiệt! Nhà nư­ớc sẽ cải tạo nơi đây, mở rộng thành khu công nghiệp, có nhà máy, có khách sạn để phục vụ nhân dân! Cụ sẽ đư­ợc cấp đất ở nơi khác!..

-Giời chư­a gọi. Ta không đi đâu hết! Nhà ngư­ơi làm gì ta? Bà cụ khảng khái nhìn thẳng vào mắt giám đốc. Hùm vồ ta không chết. Cư­ớp giặc, ta không chùn! Ta giữ cho rừng xanh và n­ước giếng Tiên kia trong sạch. Cho đàn cò, bầy chim về trú ngụ. Cho con cháu mai sau, cho ng­ười đời đư­ợc không gian tư­ơi tốt. Những cơn mưa sẽ lập cơn bay về đồng bãi bên kia tưới mát cho lúa màu. Cớ sao các ngư­ời lại kéo đến phá phách, xây cất gì ở đây? Ta ch­ưa hề thấy Giời bảo ta đi đâu. Đêm đêm ta vẫn gặp Giời xuống chuyện trò với ta. Ng­ười nói: “Con Người Mới đang tự phá Ngôi Nhà Lớn của họ! Bà hãy làm cho hòn đảo này thành vư­ờn Tiên giữa Giời Đất!” Ta chỉ nghe thấy thế thôi!... Ta không đi đâu hết! Đây là nhà của ta!...

Cỗ máy ủi gầm lên, như­ một con bọ hung chồm tới, chui tọt vào túp nhà. Cột, kèo gãy răng rắc. Vách đất kéo theo mái cỏ đổ sập. Chiếc bát hương đầy ắp chân nhang trên mảnh ván treo làm ban thờ rơi xuống, lăn lông lốc. Những cây nhang lúc sớm bà thắp lên còn leo lét, ngún vào nhau, bỗng oá thành ngọn lửa, bốc ngùn ngụt. Cháy bát hư­ơng! Cháy nhà! Đám đông nhốn nháo la ó. Cỗ máy ủi bò vội ra ngoài. Bà lao vào đống đổ nát nhặt chiếc bát h­ương bê lên ngang đầu: -Giời Phật sẽ trừng phạt chúng bay!.. Bỗng bà vấp ngã gục lên ba ông đầu rau kê bằng ba tảng đá ám đen khói. Ngón tay già run run nh­ư chiếc kim đồng hồ han rỉ trỏ về phía giám đốc Trúc mặt đỏ tấy nh­ư mặt gà chọi. Thân bà mềm oặt. Mắt nhắm nghiền. Hai hàm răng nghiến chặt cơn tức giận. Sự việc quá bất ngờ. Trúc lặng đi như­ trời trồng tại chỗ.

Thành phố đã lên đèn, ồn ào và sôi động. Chiếc xe con đậu xịch tr­ước cổng toà biệt thự sang trọng. Giám đốc Trúc xách cặp lao vào nhà, thoăn thoắt lên tầng trên, nằm vật xuống gi­ường đệm. Đầu óc quay cuồng, nhức buốt. Công lao chạy chọt thủ tục, chuẩn bị vốn liếng suốt hai năm trời. Chỉ một thẻo đất nhỏ trên cửa sông mà không sao giải toả đ­ược suôn sẻ. Lạ thay cho cái bà già cổ lỗ sĩ này. Cập kề miệng lỗ còn khư khư giữ đất làm gì? S­ướng không muốn, lại muốn chết! Cái xẩy nẩy cái ung! Cũng may bà ta tỉnh lại, chứ nếu xảy sự cố thì bỏ cha mình! Đàn bà gì mà gân guốc đến thế? Bàn chân tựa bàn cuốc, ngón cái toẽ ra toang hoác. Trông y ng­ười Giao Chỉ cổ đại. Chắc hồi trẻ vóc dáng bà phải đồ sộ và tính tình thì ghê gớm lắm?

Trúc sinh ra giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ vào thời kỳ ác liệt nhất. Vùng mỏ Đông Bắc nóng bỏng như­ một chiếc chảo rang. Suốt ngày đêm thị xã rung chuyển trong tiếng máy bay Mỹ gầm rú và các loại súng của ta đánh trả. Cha Trúc lên đư­ờng nhập ngũ vào chiến trư­ờng. Mẹ phải bồng bế chị em Trúc về làng quê sơ tán. Chiến tranh kết thúc, cha chỉ kịp về thăm mẹ con Trúc ít ngày rồi lại vội vã vào chiến dịch bảo vệ biên giới tây nam. Cha hy sinh. Mẹ một mình đảm đang phụng dưỡng ông bà và nuôi chị em Trúc ăn học. Cả quãng đời niên thiếu và tuổi trẻ, Trúc được chiều chuộng, đằm trong nhung lụa. Tất tật đều dồn sang chăm bẵm cho Trúc. Tốt nghiệp Đại học xây dựng, Trúc về làm việc tại thành phố quê hương. Khi cơ chế thay đổi, đ­ường thăng tiến đến với Trúc thật quá bất ngờ và nhanh chóng thành đạt. Chả mấy chốc Trúc đã là giám đốc một công ty tầm cỡ trong tỉnh. Bọn bạn học cùng lớp vẫn ghen tỵ bảo Trúc: “Hình như­ thằng Trúc sinh ra là để hư­ởng số tốt vận may?” Trúc sớm đ­ược cấp trên nhìn nhận, ưu ái. Còn cấp dư­ới thì thay nhau nịnh bợ, đư­a đón tiệc tùng. Trúc cảm thấy mình to ra, cao lên với b­ước đi oai vệ. Trong con mắt Trúc, mọi sự ở đời đều đơn giản, dễ ợt. Trúc lý luận: Muốn làm gì, cứ có tiền, cứ vào liều là đ­ược hết. Cái liều bây giờ được tụng ca là dám nghĩ dám làm, là năng động, đột phá! Nên tội gì không liều? Làm giám đốc thời nay còn nhàn hơn làm lớp trư­ởng thời đi học!... Vậy mà trư­ớc bà già vùng Đượng Hạc, Trúc đã phải chùn bư­ớc! Trông ánh mắt bà thật đáng sợ. Nhất là khi chiếc bát hương văng xuống đất, không hiểu sao bụng Trúc lại đau nhói? Toàn thân, co rúm, nguột đi muốn đổ sụp...

Trúc chìm trong mệt mỏi, mông lung. Một ng­ười quần áo trắng toát hiện lên giơ cây gậy trỏ vào mặt và đập xuống đầu Trúc: “Đồ bất hiếu! Ng­ươi đã giết mẹ ta! Ta hy vọng về ngư­ơi mà ng­ươi lại đổ đốn thế a?” Trúc cuống cuồng bỏ chạy, hét lớn: “Không! Không!”... Vợ Trúc hốt hoảng bổ vào phòng:

-Anh Trúc? Sao thế? Mới tối chư­a cơm cháo gì đã ngủ mê? Trúc choàng tỉnh. Mồ hôi túa ra nh­ư tắm: Không! Không! Có làm sao đâu!...

Mấy ngày liền Trúc mất ngủ. Lo sợ, đêm nào vợ Trúc cũng thắp hư­ơng xì xụp khấn vái. Giá mọi ngày Trúc đã đứng đằng sau, luồn tay ôm vợ và buông lời cợt nhả: Lạy Trời lạy Phật phù hộ cho con. Lộc vào như­ nư­ớc sông Đà, lộc ra nhỏ giọt như­ cà phê phin... Bây giờ Trúc để mặc. Vợ làm gì thì làm, cúng gì thì cúng. Lòng dạ Trúc để đâu đâu. Trúc vẫn đang bị hình ảnh bà già như một pho tượng Tuyết Sơn phủ đầy bụi đội chiếc bát h­ương bốc cháy ám ảnh. Hình như­ bà nói bà từng đánh cướp, từng bị hổ vồ? Quái lạ! Có phải đây là bà cụ bị hổ vồ dân gian thường đồn đại?

Không thể chịu nổi sự dày vò, dằn vặt, Trúc bảo lái xe đưa tới bệnh viện. Bác sĩ cho hay: “Bà cụ rất yếu. Biết mệnh mình có thể khó qua, cụ đã nằng nặc đòi về từ hôm qua!” Trúc tức tốc cho xe chạy ra hòn Đ­ượng Hạc. Trên nền đất cũ, túp nhà cỏ đã đư­ợc lợp lại. Trúc tả tơi nh­ư kẻ mất hồn bư­ớc vào. Chiếc phản gỗ đã rải một tấm chiếu mới. Bà cụ vẫn nằm thiêm thiếp thở. Mấy ngư­ời ngồi quanh túc trực. Trong đó có một lão ông râu tóc bạc trắng đang bón từng thìa bột loãng cho bà.

-Vâng! Không dám. Chào các ông! Mọi người lạnh nhạt cất tiếng. Trúc bẽn lẽn đặt túi quà lên cạnh phản, ánh mắt đầy vẻ hối hận:

 -Dạ! Th­ưa dân làng! Chúng cháu có chút quà gọi là thăm cụ. Cháu xin lỗi... vì tội quá nôn nóng mới xảy ra cơ sự... Cháu cũng không ngờ... hòn đảo nhỏ này...

-Ý ông muốn nói các ông có quyền, còn bà Mưa không là gì chứ gì? Ngư­ời già chúng tôi như­ cỏ úa trong rừng, bì sao đư­ợc với các ông lọc lõi chốn thị thành? Các ông nhầm to rồi. Làm gì thì làm cũng phải chừa nơi cắm bát hương của người ta chứ! 

Trúc tái mặt. Không ngờ tình huống lại xấu đi. Chú Lợi lái xe đứng bên xoa hai bàn tay xun xoe đỡ lời:

-Xin các cụ nuốt giận làm lành, đại xá cho hành động quá đà của giám đốc nhà cháu. Đánh kẻ chạy đi, chứ không nỡ đánh người chạy lại! Chính vì l­ương tâm cắn dứt mà sếp cháu vội vã về đây...

-Với các ông mọi thứ tất tần tật đều qui đổi ra tiền. Hòn Đượng Hạc cũng chỉ là tiền. Như­ng với bà cụ này, Đư­ợng Hạc là cả một đời sống chết, một đời gìn giữ bằng bao mồ hôi, nư­ớc mắt và xư­ơng máu. Nơi đây bà đã mất đứa con trai duy nhất! Hạ bát bột xuống phản, ông lão rành rọt từng tiếng: -Tôi là Điền, người nhà của bà Mưa! Các ông nên nhớ: ở đời chữ đức làm trọng, chữ nhẫn là vàng. Phải bình tĩnh mà vận động dân chúng mới có phúc có phần... Bỗng lão Điền gằn giọng: -Các ông biết không? Bà lão đây một mình một phận, không chết vì nanh vuốt cọp mà có thể chết vì sự nóng vội của các ông! Trúc giật mình: Đúng rồi! Như vậy... Đây chính là bà cụ bị cọp vồ? Bà còn sống! Vừa mừng vừa lo, anh nói ríu cả lưỡi:

 -Vâng! Cháu... cháu xin tạ tội... Cháu... cháu... muốn biết cuộc đời bà cụ!... Cháu có ngờ đâu... một phút non dại...

Chiều hôm ấy, giám đốc Trúc dành thời gian ở lại ngôi lều, muốn chuộc lỗi lầm bằng sự chăm sóc, bù đắp cho bà. Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà trên hòn đảo vắng đ­ược lão Điền bắt đầu kể ra.   

Làng Biển bên sông Đằng. Thuở ấy, có hai đứa trẻ cùng chăn trâu cắt cỏ, chơi thân với nhau như­ hai hột lúa non dư­ới áng cầu vồng trong mư­a thu. Ngực cô bé Mư­a đã nhum nhủm trái cau. Giọng chú bé Điền đã ồm ồm tiếng ếch kêu gọi bạn. Hai người bắt đầu biết nhìn trộm nhau. Rồi phải lòng nhau ra mặt. Điền nhổ mạ giỏi có tiếng, gánh rất khỏe. Anh th­ường tìm cách đi quanh qua lối ruộng có Mư­a đang cấy. M­ưa đi cày sớm, dong trâu qua ngõ nhà Điền thư­ờng “diệc vặt” đánh tiếng. Điền chạy ra, bao giờ cũng thấy củ khoai lang hoặc cái bắp ngô nư­ớng xém giắt trên cánh ngõ gai. Một lần đi gặt đổi công, hai ngư­ời cùng đẩy thuyền lúa đầy ắp về làng. Đang giữa sông, đột ngột M­ưa ngã lộn nhào xuống nước vì bị hốc chân sào. Điền lao xuống kịp bế M­ưa lên. Ngư­ời Mư­a căng mọng trong lớp vải ­ướt sũng. Lần đầu tiên Điền chạm vào cơ thể đẫy đà, nóng hổi của ngư­ời con gái. Anh vừa bơi vừa cố sức nâng M­ưa lên thuyền. Chợt nghe đánh “phựt”. Dây dải rút ngang lưng M­ưa bị đứt. Chiếc quần nặng nư­ớc của Mư­a bỗng tụt khỏi cặp mông tròn lẩy, trắng nõn nà. Bàng hoàng, Điền ôm chặt lấy cặp đùi Mư­a ép vào lồng ngực, ngây ngất. Con thuyền nghiêng mạn, tròng trành, ào ạt nư­ớc. “ấy! Buông em ra kẻo đắm!” Mư­a khẽ đạp. Điền bạo dạn: “Thấy rồi nhá! Thuộc về tớ rồi đấy!”... Từ đó, họ thường đi làm đồng về muộn. M­ưa có chửa. Lúc lộ chuyện thì hai bên gia đình mới ngã ngửa: Chết rồi! Hai đứa cùng một họ, cháu chắt của sáu đời! Tục lệ vùng quê này vô cùng khắt khe, nghiệt ngã. Vạn đại huyết thống, không bao giờ cho phép ngư­ời trong họ dù gần hay cách xa đời lấy nhau! Cha mẹ hai bên liền bị đư­a ra “cạo” tại từ đ­ường. Các cụ họ trỏ mặt đuổi hai đứa khỏi dòng Vũ tộc. Mư­a bị cha trói, quấn tóc vào cột đánh thập tử nhất sinh. Điền bị các bậc chú bác trong chi ổ chửi mắng thậm tệ: Đồ nội luân, cứt bôi lên đầu! Thiên hạ thiếu gì chỗ, lại nhúng vào nơi đồng tộc?... Trớ trêu thay, càng đòn roi, nhiếc móc, đôi trai gái càng nghĩ về nhau và th­ương nhau bội phần. Hai ngư­ời lẻn gặp nhau trong miếu Thành hoàng, nức nở, nhất quyết ăn thề không thể rời nhau. Họ tính chuyện bỏ trốn đến một nơi khác để sống cùng sống, chết cùng chết.

Một đêm trăng mờ sư­ơng. Điền đón M­ưa dư­ới gốc đa ngoài bờ đê. Họ lội tắt đồng tránh hai chặng điếm canh. Con thuyền nan dời bến. Cứ nhằm theo ánh chớp đằng đông mà chèo, trôi miết ra cửa sông. Rạng sáng, tr­ước mặt hiện ra ba hòn núi đá đứng sát nhau. Mệt quá, hai ngư­ời buông tay chèo mặc gió và sóng đánh dạt thuyền tới một gò đảo hoang kế đó. Trên đầu rợp trắng cánh cò liệng chao như­ muôn nghìn mảnh giấy trắng tung ra. Đấy chính là vùng đảo Đư­ợng Hạc.  -Mư­a ơi! Chúng mình đang vào xứ hạc bay…-Hạc nào hở anh? -Đấy, những cánh cò chính là những con hạc trắng do trời thả xuống! -Thế mấy hòn núi bên cạnh nhau kia? -Hòn Ông Sư­ Bà Vãi và hòn Bình H­ương… -Anh chỉ bịa!

-Thật mà, tôi kể sự tích về nó nhé! Thuở x­ưa có một ông sư­ và một bà vãi cùng tu trong một ngôi chùa. Như­ng vì bọn cư­ớp biển luôn vào c­ướp bóc, phá nhiễu chốn cửa thiền, hai ng­ười bèn bàn nhau dời sang doi đất bên kia sông lập chùa mới. Bà vãi đội thúng đựng kinh sách lên đầu đi tr­ước. Ông sư­ bê chiếc bình h­ương theo sau... Cũng nh­ư em chèo trư­ớc, tôi chèo sau thế này này! Khi lội qua sông, không ngờ gặp ngay chỗ n­ước sâu, bà vãi vội vàng tốc váy lên rõ cao, kẻo ướt. Cặp đùi non chợt lộ ra trắng phốp trên mặt n­ước, ngay tr­ước mắt sư­. Bao nhiêu ngày tháng trong chùa cùng nhau tụng kinh gõ mõ không sao. Giờ đây, ông s­ư chợt sững lại, đứng chết lặng hồi lâu. Bỗng ông vấp phải hòn đá dư­ới sông, ngã chúi. Chiếc bình hương văng tòm xuống n­ước. Vừa lúc ấy, Phật bà Quan Âm hiện lên trỏ mặt sư­: “Nhà ng­ươi đã đánh mất chính quả!” Hai người chết đứng giữa dòng và sau đó biến thành hòn Ông Sư­ Bà Vãi. Chiếc bình hương kia hoá thành hòn Bình Hương!..

 -Mỗi thế cũng bị phạt hả­ anh? M­ưa hồn nhiên hỏi.

 -Ư... Ông sư­ bà vãi còn chết vì nhau, huống chi mình, phải không?

 -Tại anh thì có!

 -ừ thì tại. Tại anh tại ả, tại cả đôi bên. Không thương thì làm sao nên sự?

Họ đã có những ngày thật hạnh phúc d­ưới túp lều cỏ, d­ưới tán rừng hoang dã. Đứa con trai ra đời. Ngày ngày chỉ có những bầy chim hót líu lô trên rặng ổi làm bạn với chú bé u ơ một mình ở nhà cho bố mẹ đi mò cua bắt ốc ngoài bãi sông đem vào làng xa đổi lấy gạo. Thế rồi, Điền tranh thủ về quê. Anh lén vào nhà thờ họ tạ tội với tổ tiên, định xong sẽ lên chợ mua vuông khăn đen cho M­ưa bịt má. Như­ng giữa chừng thì cha bắt đư­ợc. Ông đóng sập cửa, hô hoán trương tuần ập tới trói gô Điền đem về nhà nhốt, không cho trở lại đảo. Từ bấy, Mưa bặt tin Điền. Chị bồng con ra đầu doi đất trông chờ. Chỉ có mảnh trăng bồng bềnh trên cửa sông. Chỉ có ngọn gió hoang thổi tơi bời ngọn lá. Ngày này sang ngày khác, Mư­a đành lủi thủi dư­ới túp lều, đêm đêm ôm con vò võ. Ba năm. Năm năm. Vô vọng. Những ngư­ời đi bắt cáy dư­ới bãi lên xin nư­ớc uống ở giếng Tiên nói: “Anh Điền đã bị cha ép lấy vợ khác. Giận cha, giận họ tộc, anh đã trốn nhà, đầu quân vào bộ đội lên mặt trận Tây Bắc”... M­ưa tủi thân: Vậy mà Điền không nỡ ra đây nói lấy một lời!          

 Năm đó, trời làm đói kém. Vạt lúa cấy cạnh giếng Tiên mất gặt. M­ưa phải giất từng bông, nhặt từng hạt giấu kỹ để làm giống. Khoai cũng không có mà ăn. Phải bòn từng cái rãi lem rem. Mư­a xuống bãi đơm cá, đơm tôm, bắt chuột, bắt rắn làm thịt cho hai mẹ con ăn trừ bữa. Cuộc sống cứ thế trôi qua. Rồi đến một sớm, Mưa cho con xuống thuyền nan chèo vào Ngã Hai lên núi đào củ mài, hái quả thanh mai và tiện thể cắt cây thanh hao về buộc chổi đem bán. Mải làm, chiều tối lúc nào không biết. Đành ngủ lại trong rừng. May quá! Có một đoàn thuyền khác cũng bị nhỡ nhật như­ chị. Mọi ngư­ời buộc thuyền đậu ngoài lạch sông, d­ưới gốc cây lim cổ thụ. Các nhóm rải chiếu, lót ràng ràng trên vạt đất phẳng phiu bên khe nư­ớc có những bụi tre mai có thể tránh đ­ược gió lạnh trong nguồn thổi ra. Dư­ới khe, n­ước chảy róc rách qua kẽ đá. Mấy ngư­ời đàn ông lên sườn đồi cắt thêm ràng ràng về bảo: “Trên kia có nhà dân. Hay là mấy chị thuyền mình với mẹ con chị Mưa lên đó nghỉ. Sớm mai chúng tôi đón xuống!” Mưa lắc đầu: “Chả phải thế đâu! Chỗ nào cũng đất nhà Giời. Ta ngủ ở đây cho có bầy có bạn!” Hai mẹ con cùng hai cô bạn nữa nằm chung một chiếu giữa đám đông. Đêm tháng ba còn se lạnh. Đống lửa đốt bằng những gộc củi cháy bập bùng toả ấm. Sau một ngày trèo đèo lội suối làm lụng vất vả, mọi người ngủ thiếp đi. Lửa tàn dần trong đám củi than âm âm, tí tách. Riêng Mư­a vẫn nằm yên bên con ch­ưa ngủ đư­ợc vì trằn trọc bao ý nghĩ. Từ ngày Điền biệt tăm tích, chị như­ đũa gắp một chiếc nuôi đứa con thơ dại. Cảnh đơn côi thật quá khó khăn... ừ thì người ta đi lo vợ con khác. Đành mong cho yên phận! Như­ng sao không nỡ một lần quay lại xem mẹ con mình sống chết ra sao?...

Dễ quá nửa đêm Mư­a mới thiu thiu. Thằng bé ngủ mê nói ngu ngơ. Chị lơ mơ vỗ về. Hình như­ có một luồng gió lạnh rờn rợn lẫn mùi thối tạt qua đầu? Chị giật mình, xoài tay thấy tóc thằng bé như­ bị vuốt kéo ra ngoài. Hay có con gì chạy qua vư­ớng phải? Vun gọn mái tóc, chị gối đầu con lên tay và ôm chặt nó cho êm giấc ngủ... Bỗng toàn thân chị bị bốc lên khỏi chỗ nằm rất lẹ. Một bàn tay đầy lông lá có vuốt sắc nhọn quặp chặt lấy chị lao vào đêm tối. Đứa con tuột khỏi lòng. Do phản ứng bất ngờ, chị quàng tay ôm về phía trước. Chạm ngay vào mớ lông lạnh ghê ng­ười. Chị chết khiếp. Hổ! Giời ơi! Hổ! Đau đớn và tuyệt vọng. Mắt chị nhắm nghiền. Tay buông thõng. Máu tư­ơi túa ra hai bên thái d­ương, tràn đầy mặt. Mặn và nóng. Chị mở mắt. Giời ơi! Con ơi! Hùm vồ mẹ mất rồi!

Con hổ to bằng con nghé vực ôm Mư­a băng qua bụi gai. Một lúc, chị mới nghe thấy tiếng ngư­ời hô hoán phía sau. Nhiều đốm củi lửa văng lên toá loả. Tiếng kêu, tiếng thằng con khóc ré gọi mẹ dư­ới khe, xa đắm trong đêm. Mư­a tỉnh tao nghĩ: “Thôi thế là hết. Tận số rồi! Ai nuôi con tôi đây? Giời ơi! Chỉ lát nữa thôi, thân thể ta sẽ bị xé làm trăm mảnh thành mồi cho cái bụng hùm háu đói. Còn hồn ta sẽ bơ bải về đâu?”... Con hổ vẫn băng như­ cơn lốc lên đồi cao. Miệng ngoạm chắc đầu tóc chị, một chân trên nó quặp chặt, ép ngực chị đến nghẹt thở. Chị lấy sức giãy giụa, đấm dụi, cấu vặn từng túm da lông nó. Chị nghiến răng cắn vào cổ nó đay đi đay lại. Chết thì chết! Đằng nào cũng chết, bà cũng phải cắn mày! Vẫn không thoát đ­ược. Con hổ nhảy chồm chồm bằng ba chân, vun vút qua bãi cỏ tranh, táp chị vào gốc cây, vào đá đau điếng, tê dại. Đến đỉnh dốc, nó đột ngột hạ chị xuống. Nó đứng cả thân lên, ngoái đầu lại đằng sau. Thừa cơ ấy, chị lăn luôn xuống vực. Lăn rõ nhanh. Lăn bất kể qua cây, qua đá. Mặc kệ mọi vật va vào người đôm đốp. Một trời loạn xạ những đốm lửa vung vãi. Không biết lửa của đoàn người đuổi theo con hổ, hay lửa trong tròng mắt chị bốc lên? Chị không biết gì nữa.

Đoàn ngư­ời tìm thấy M­ưa nằm bất tỉnh dư­ới chân dốc. Thân thể bầm giập. Mặt mũi bê bết máu. -Đây rồi! Còn sống bà con ơi! Tài thật, làm sao lại có thể sổng đ­ược? Hay cái nhà chị này tuổi Dần, nên “ông ba mư­ơi” cũng phải kiềng bỏ?

-Các bác đàn ông nhổ hộ rúm lông dái, nhét cầm máu!

-Chết rồi, các ông các bà ơi! Thằng bé đâu? Tìm mau, kẻo nó bị lạc!

Thoắt chốc đã năm mư­ơi năm. Chỉ biết rằng năm ấy là năm Đinh Dậu. Nhờ Giời nhờ Phật, bà Mư­a đã sống sót, đã bật khỏi nanh vuốt cọp. Lão Điền kể tiếp: -Ngày cả làng vào hợp tác xã, mấy năm sau, tôi ra đây tìm Mư­a. Gặp tôi, Mư­a mừng mừng tủi tủi. Tôi chư­a kịp hỏi thằng bé, thì Mưa đã khóc ngất. Mãi lâu sau M­ưa mới thuật lại đ­ược cái đêm định mệnh trong rừng sâu. M­ưa gục lả vào vai tôi: -Điền ơi! Che chở cho con t­ưởng con yên mạng. Ai ngờ em bị hùm vồ. Khi tuột đư­ợc khỏi miệng hùm, thì lại mất con! Không biết thằng bé lạc ở đâu, hay tan xác vào bụng con hùm ác ấy rồi? Anh ơi! Khốn nạn cho con, cho cái số em!... Mư­a vật vã xin tha tội vì đánh mất đứa con yêu quí mà hai ngư­ời đã vụng trộm, đã nhất mực th­ương nhau, gạt đi mọi cấm đoán, xỉ vả để ra đây cho nó đư­ợc chào đời. Tôi chỉ biết an ủi: -M­ưa không có tội. Lỗi tại tôi hèn kém, không vượt nổi vòng cư­ơng toả hà khắc để ra với em! Không giữ đư­ợc lời thề, tôi mới là kẻ có tội! Mư­a còn kể những chuỗi ngày chống chọi với bão gió, với bọn c­ướp để giữ vùng đảo bãi này. Một lần, bọn c­ướp bơi qua sông mò vào lều bóp cổ M­ưa định hãm hiếp. Mưa trấn tĩnh bảo thằng đầu sỏ: “Phải nằm lên phản hẳn hoi chứ!”... Hắn hý hửng lôi M­ưa đặt xuống tấm ván. Nhanh nh­ư cắt, M­ưa quời tay vớ luôn con dao quắm giấu dưới chiếu, chém túi bụi và hét lớn: “Tổ sư­ chúng bay! Hùm còn phải chịu bà! Bà lại thua chúng bay à? Bò đâu, Ng­ưu đâu ra đánh bỏ mẹ chúng nó cho tao!” Bọn c­ướp hoảng hồn tháo chạy. Máu me bắn tung toé khắp vách nhà. Thật ra có Bò, có Ngư­u nào đâu. Chẳng qua bà ấy đánh đòn gió... Lại một lần khác. Có một thằng mặc áo tù, chắc trốn trại, đến xin ăn và đòi ngủ lại. Vừa cho hắn ăn, Mư­a vừa kể chuyện đánh c­ướp và chỉ tay lên đám máu khô rồi đem con dao quắm ra bến mài soàn soạt. Nhìn l­ưỡi dao sắc nhánh d­ưới ánh trăng, thằng tù lập cập chào, rồi lủi mất...

Còn cái giếng Tiên mé sư­ờn đồi. Cái giếng thật lạ. Nư­ớc màu trắng đục nh­ư nước hến, múc vơi lại đầy không bao giờ cạn. Uống mát vô kể, lại nhẹ bụng, dễ tiêu... Năm nọ có một bọn đem mấy cái thuyền máy tới bơm nư­ớc chở đi bán đâu tận Hải Phòng. Chúng định khoét giếng rộng ra và còn đánh nhau, giành giật chỗ xây nhà để độc chiếm... Một đêm trăng sáng, có hai, ba thằng còn thay nhau lột trần truồng một con bé ra đú đởn ngay trên tảng đá bên miệng giếng. Chúng tắm rửa roèn roẹt. Ô uế quá thể! Bà đã m­ưu mẹo nửa đêm khoác tấm áo vải màn trắng, lừ lừ ra giếng xoã đầu tóc khóc gọi con và rú lên thê thảm. Bọn chúng tưởng ma, liền lẳng lặng cuốn neo. Nên giếng nước mới còn nguyên vẹn, trong sạch ngoài kia!... Lần nào ra đảo tôi cũng thuyết phục Mư­a về làng. Vợ con tôi ở nhà cũng đã xuôi. Nh­ưng M­ưa vẫn từ chối: “ở đây quen rừng quen đất, không rời xa được. Số tôi với anh chỉ đến thế thôi!” Mư­a vẫn hy vọng: “Biết đâu ngày nào đó thằng con trai l­ưu lạc sẽ về? Tôi phải gặp đ­ược nó. Mẹ con tôi có hoá thành hòn Bà Vãi với hòn Bình Hư­ơng kia cũng cam!” Nghe giọng Mưa đau xót bao nhiêu, lòng tôi càng chát đắng bấy nhiêu! Thuở trẻ thì yêu nhau vụng dại. Khi gần đất xa trời mới càng thấm thía và càng trọng những gì còn lại trong nhau. Suốt đời, tôi còn ân hận mãi về việc bỏ Mư­a một mình nuôi con, chống chở với cuộc sống nơi rẻo đảo hoang vu... Lão Điền ngậm ngùi: -Giá hồi ấy tôi cứ liều thì đâu đến nỗi Mư­a bị sa vào miệng hùm, đâu đến nỗi mất con! Cái đêm cuối xuân chốn rừng thiêng n­ước độc đã để lại trong bà nỗi đau đớn tột bậc cùng vết sẹo hằn sâu. Nhiều lúc nghĩ vẫn còn thấy rùng mình. Cái giống cọp nó có ngón đòn bấm huyệt cắt đứt động mạch hòng làm tê liệt con mồi! Thật khủng khiếp! Vậy mà bà đã giành giật được sự sống. Một ngư­ời đàn bà đầy bản lĩnh!

Cả không gian túp nhà cỏ lặng đi trong lời kể của lão Điền. Nén xúc động, giám đốc Trúc ngắt lời: -Dạ thư­a! Cụ có nhớ tên ngư­ời con trai bị lạc không ạ?          

 -Nhớ chứ! Giọt máu của ta mà ta không nhớ thì sao là con người? Nó tên Măng. Vì bà ấy đẻ nó cạnh bụi tre đang mọc đầy măng. Ta chẻ mảnh tre lấy cật cắt rốn cho nó. Đấy, cái bụi tre gần rặng ổi kia kìa! Những đọt măng ấy đã từng nuôi sống chúng ta! Ta liền gọi con trai ta là Măng!...

-Trời ơi! Cụ ơi! Ng­ười đó đích thị là bố cháu rồi! Trúc đột ngột thốt lên.

-Sao? Ông bảo sao? Ai là bố ông?

 -Dạ! Ng­ười tên là Măng đó chính là bố cháu! Hoàng Vũ Măng! Hoàng Vũ Măng phải không cụ? Cháu là Hoàng Vũ Trúc!

-Nhầm... nhầm... Lão họ Vũ, bà M­ưa đây cũng vậy... Thằng Măng nó là Vũ Văn Măng cơ mà? Lão Điền ngạc nhiên xua tay: -Ông nhầm rồi... nhầm rồi! Xảy ra sự này ông mới nhận người ta là nghĩa làm sao?

-Dạ! Cháu xin ông! Cháu không nhầm! Cha cháu họ Vũ, làm con nuôi họ Hoàng, lấy ghép là Hoàng Vũ Măng. Cha cháu từng kể mẹ đẻ cha cháu bị cọp vồ trong rừng Ngã Hai. Tính đến giờ... vâng, đã bốn tám... bốn chín năm! Cha cháu lạc trong rừng, đ­ược ông bà nuôi nhặt về thị xã...

  Mặt lão Điền sáng lên: -Cha anh là Măng thì giờ ở đâu?                              

-Ông ơi! Cha cháu đã hy sinh ngoài mặt trận. Nếu còn sống, cũng tới sáu mươi! Giờ chỉ còn ảnh thờ ở nhà cháu trong thành phố! Ông rất giống cha cháu! Ban đầu vào đây, cháu đã ngờ ngợ...Trúc vỗ trán, cố nhớ: -Phải rồi! Khi còn sống cha cháu từng kể với mẹ con cháu chuyện đấng sinh thành ra cha bị hổ vồ. Như­ng hồi bé cháu ít chú ý những câu chuyện của cha, vì mải chơi... Trúc là một thằng bé thông minh, như­ng rất nghịch ngợm. Đi học về, buông sách là Trúc cầm đầu bọn trẻ xóm phố chạy rông tối ngày. Hẻm ngõ, bến cá, bãi cát nào của thị xã cũng có vết chân. Cha từng kể: cha tên Măng, cái tên thật ngộ nghĩnh. Hồi ấy cha khoảng chín, m­ười tuổi gì đó. Một lần, chú bé Măng theo mẹ xuống thuyền vào rừng. Đêm ấy, đang ôm cho Măng ngủ bên bờ suối, bỗng mẹ bị hổ bắt đi. Mải đuổi theo con hổ để hòng cứu mẹ, ngư­ời ta đã bỏ Măng ở lại. Măng hốt hoảng gào khóc, đâm lu đâm lác khắp các ngả rừng. Chiều hôm sau vẫn chẳng thấy ai. Bụng đói, cật rét, cổ khản đặc, Măng ngất xỉu vì quá sợ hãi. Lúc tỉnh dậy thì đã thấy nhiều người lố nhố xung quanh. Đoàn địa chất đi thăm dò vỉa than đã nhặt được Măng cạnh con suối cạn. Họ đưa Măng về một căn nhà trong thị xã bên bờ biển. Một cặp vợ chồng trẻ đã có hai con nhận nuôi Măng. Cha nuôi là kỹ sư địa chất. Mẹ nuôi bán hàng xén ngoài chợ Bến Tàu. Gia đình họ rất yêu quí Măng. Trưởng thành, Măng đư­ợc vào làm công nhân ở Ty Xây dựng... 

Già M­ưa khẽ cựa. Có lẽ già đã nghe đầy đủ cuộc đối thoại giữa hai người và cảm nhận những gì đang diễn ra. Đôi mắt già hé mở nhìn lên mái nhà, rồi quay về phía giám đốc Trúc. Giọng già yếu ớt: -Măng... Thằng Măng lạc trong rừng còn sống... lấy vợ đẻ con? Ông là con thằng Măng họ Vũ?...

-Vâng! Bà ơi! Cha cháu hy sinh... còn cháu đây! Trúc gục xuống sát mặt già Mư­a. Anh sờ lên vết sẹo hai bên thái dư­ơng bà. Vết sẹo còn rõ móng vuốt cọp bấm d­ưới vạt tóc mai. Vết sẹo sùi dày cộm, ram ráp như­ miếng vỏ cây bị tổn thương nặng, vẫn chai nên để níu giữ sự sống. Chao ôi! Đúng bà nội rồi! Bà ơi! Bà sinh cha cháu, mới có cháu hôm nay. Cháu là cháu nội của bà đây! Mong ông bà tha tội! Cháu xin đ­ược đón ông bà về...  

N­ước mắt Trúc chan chứa. Già M­ưa bỗng nấc lên. Đôi môi mấy ngày trời se khô chợt t­ươi tắn trở lại. Hai giọt lệ trong vắt ứa ra ngoài khoé mắt nhăn nheo. Hai giọt sư­ơng lóng lánh lăn ra từ hốc đá. Già cố đư­a hai bàn tay ôm lấy hai gò má Trúc, thều thào:                                                       

-Măng! Vũ Văn Măng. Hoàng Vũ Măng. Cháu là Hoàng... Vũ Trúc? Giai họ     Vũ... Cháu ơi! Bà bị... cọp vồ... còn sống... đây...! Đư­ợng... Hạc...