Vào thời Hậu Lê khoảng năm 1434, đời Thiệu Bình thứ I, vâng chiếu vua Lê mở rộng kinh thành Thăng Long, một tập đoàn 17 người cùng quê ở phường Kim Hoa (nay là phường Kim Liên), huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, phía nam thành Thăng Long đã ra đi tìm nơi lập nghiệp. Họ là những nho sỹ, thợ thủ công, những người lao động nông dân cày cấy sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và đánh cá ven sông Kim Ngưu. Rời quê hương bản quán, xuôi thuyền qua sông Hồng, cuộc hành trình nhằm ra phía biển Đông. Đang đi thì đoàn thuyền gặp vùng cửa sông sóng vỗ trắng chân mây. Đấy chính là sông Bạch Đằng tức sông Vân Cừ thuộc huyện An Hưng, lộ Hải Đông. Trong một đêm mưa gió chợt nghe có tiếng ếch kêu dưới rừng sú vẹt vọng lên, ai cũng lấy làm lạ. Theo kinh nghiệm của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, đoán nơi bãi triều ngập mặn có loài ếch sống, ắt sẽ có nước ngọt, mọi người bèn bảo nhau lội xuống, rẽ rừng sú tìm theo tiếng ếch. Quả thật thấy một hố nước ngọt trên một gò cao, có những chú ếch thấy động nhảy ra. Họ liền cắm thuyền dừng lại, rồi đắp đê lấn biển, khai hoang, lập ấp dựng làng. Từ đó thành vùng làng đảo Hà Nam ngày nay với 34 km đê biển, với 4 xã 4 phường, gần 6 vạn dân và là một trong hai vựa lúa lớn miền tây của tỉnh Quảng Ninh.

Dân gian vùng quê Hà Nam kể rằng: Ngày xư­a, mỗi độ xuân về, khôn nguôi nhớ chốn kinh thành Thăng Long, nhớ những hội hè, đình đám... nên các cụ ta đã vời các bô lão tuổi tác cao nhất trong ph­ường xã trộm đóng y phục giống như­ đức vua ngồi lên võng đào, kiệu rồng để con cháu xúm lại nghinh rư­ớc lên Miếu đường và bày soạn tế lễ. Không khí diễn ra nh­ư thể ở triều đình, cũng hai bên “bát biểu”, võng kết, lọng che, cũng ph­ường nhạc bát âm, trống khẩu cầm nhịp, cũng hát x­ướng ca ngâm... Dần dà, đã hình thành một Lễ hội Rư­ớc Người. Theo cổ tục, hội mở chính vào ngày 7 tháng Giêng âm lịch và chỉ mừng thọ cụ ông. Thời đại mới, kinh tế phát triển, cuộc sống văn minh, Lễ hội mừng rước cả cụ ông và cụ bà.

Không khí chuẩn bị Lễ hội náo nức từ tháng Chạp năm cũ. Trên các ngả đường, đây đó người ta đã hỏi thăm nhau xem trong họ ngoài làng, xã mình xã bạn Tết này có bao nhiêu cụ 80, bao nhiêu cụ 90, 100 tuổi? Cụ nào yếu, cụ nào còn khoẻ mạnh? Có các cụ nào đồng niên, song thọ? Các gia đình có cụ Thượng đã sớm lên kế hoạch, chuẩn bị các khâu thực phẩm, khách mời, trang trí cho lễ mừng thọ, tổ chức đám rước thọ thật tưng bừng… Hàng năm “vùng Tứ xã” có từ 150-200 cụ đạt đỉnh thọ 80, 90, 100 tuổi. Mỗi năm có từ 5 đến 10 đám rước. Mùa xuân năm Mậu Tuất 2018, đón mừng Lễ hội Tiên Công nhận Bằng Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia, Lễ hội có tới 16 đám rước lớn theo cổ tục và bổ sung thêm nhiều hình thức mới.

Bây giờ đã thành lệ: Hội mở 3 ngày đầu tháng Giêng. Mồng 5, đoàn tế bản xã Cẩm La tế Khai Hội. Mồng 6 yết hội đón các đoàn cụ Thượng và khách thập phương về dâng hương, bái lễ Tiên Công. Sáng mồng 7, các doàn rước cụ Thượng từ các ngả đường rước về Miếu Tiên Công. Chiều mồng 7 các đoàn tế “Tứ xã” tế Giã hội.

Trước ngày Khai hội, con cháu các cụ Thọ mang lễ lên nhà thờ họ, trước là bái tạ Tổ họ, sau báo mời nội ngoại, bạn bè... Nhà cửa được căng phông rạp, trang hoàng, bày biện nghi lễ, đèn sáng hoa tươi chuẩn bị đón tiếp khách khứa gần xa. Buổi sáng ngày Khai hội trở đi đường thôn đã tấp nập các đoàn đội lễ đầy ắp phẩm vật, hoa quả đến dâng mừng, chúc tụng. Cụ Thọ 80 tuổi từ ngày đó dù trong họ tộc thuộc hàng con cháu chăng nữa cũng đều được phong gọi là “Cụ Thượng” một cách cung kính. Cụ Thượng mặc áo gấm đỏ hoặc xanh thêu chữ Thọ, đạo mạo ngồi trên ghế bành trải nệm hoa, cạnh hương án. Trên hương án, giữa bày một mâm ngũ quả lớn kết thành hình con Long Mã rất đẹp và uy nghi. Long Mã là hình tượng con vật đầu Rồng mình Ngựa biểu hiện cho sức mạnh, ý chí của người vùng biển khát vọng chế ngự thiên nhiên, vững vàng trong nắng mưa, gió bão. Không thể thiếu cành đào gốc to, đầy nụ hoa và chậu cây Thiên tuế biểu hiện cho sự phát triển đông đúc con cháu, trường tồn trường thọ. Câu đối đỏ, trướng thơ mừng treo la liệt hai bên cùng đèn nến sáng lung linh. Con cháu, họ hàng, xóm láng, bằng hữu... đến mừng, từng hàng đứng trước Cụ Thượng. Người trịnh trọng dâng lễ, kẻ kính cẩn tung hô, chắp tay quì lạy. Cho nên dân gian vùng này có câu “một lễ sống bằng một đống lễ chết” là thế. Ai nấy tay bắt mặt mừng, thật là cảm động. Sau đó mọi người cùng dự tiệc hưởng lộc Thọ với Cụ Thượng và gia đình. Chí ít cũng phải nhận một chén rượu lấy lộc, lấy may đầu xuân! Chủ khách chan hòa tình cảm cùng nhau chia sẻ khát vọng, mong cho nhau kế tiếp, nối dài lộc thọ.

Lễ mừng thọ tại gia sôi động tới gần nửa đêm mới vãn. Người đọc trướng, kẻ ngâm thơ, hát dân ca... ca ngợi quê hương đất nước, công đức Tiên Công, ca ngợi tinh thần lao động, đạo đức của cụ Thượng cùng gia cảnh đề huề, tốt đẹp. Nếu các vùng các quốc gia trên thế giới từng coi trọng sức khoẻ là yếu tố số một của đời người: “sức khoẻ như một con tàu chở đầy vàng...” thì ở vùng đất Hà Nam, người xưa đã lấp lánh những áng văn thơ đối ứng, như: “Ngũ phúc nhân cầu tiên tất Thọ. Tứ thời thiên định thuỷ ư Xuân”- (Nếu Trời đã định ra bốn mùa, mùa xuân đứng đầu, thì con người trong năm điều phúc lấy tuổi thọ làm điều trước hết). Trước đây, đến chúc Thọ, con cháu đốt pháo liên hồi mừng từ đầu ngõ. Khói lan mờ mịt, xác giấy đỏ ngập lối đi. Bây giờ, pháo nổ giòn giã trong băng phát ra loa thùng. Đất trời, cảnh vật với lòng người quấn quyện, tràn ngập niềm vui.

Ngoài trung tâm Lễ hội, nhà văn hoá Thị xã, các CLB ca nhạc, chiếu chèo các xã phường tổ chức đêm thơ, hát múa rộn ràng. Ngày trước, các ả đào, cô đồng ngồi hát chầu văn, hát chèo đò trên sân Miếu; đây đó trai gái các làng hát đúm, cầm cổ tay nhau đối đáp suốt đêm. Lễ hội còn là nơi trai tài gái sắc gặp gỡ, phải lòng nhau và nhiều cặp đã xe duyên. Những dịp lễ hội gần đây, nhiều cặp ông bà đã sáu, bảy mươi tuổi vẫn đến hát đúm ôn lại một thời xuân sắc…

Sáng mồng 7 vào hội chính. Các đoàn rước ổn định nghi thức đội hình từ tinh mơ bắt đầu chuyển động theo nhịp trống khẩu và tiếng trống múa kỳ lân dồn dập, thôi thúc. Đội nữ tân rước cờ, rước lễ, rước bát biểu (đồ tế khí cổ)… bước hai hàng dọc nghiêm trang. Lễ gồm năm hoặc bẩy mâm hoa quả, trầu cau, bánh dày, bánh dẻo, rượu hồng, thủ lợn… ánh lên đầy vẻ phồn thực. Đội nữ múa xênh tiền cùng phường nhạc bát âm tấu réo rắt, ngân nga. Khói trầm toả thơm nghi ngút, vấn vít quanh mô hình chữ Thọ được tô vẽ vàng son. Bộ võng đào có Cụ Thượng ngả lưng thanh thản. Võng do 2 trai tráng khăn xếp áo the khênh rước bằng đòn sơn tạc đầu rồng bước chậm từng nhịp một. Người cầm lọng xanh che võng vừa đi vừa xoay lọng rất khéo. Có nhiều Cụ Thượng khoẻ mạnh đòi được đi bộ giữa bầy con cháu ôm hoa tháp tùng. Có nhiều năm có đám rước hai cụ là cặp vợ chồng song thọ. Những đám rước này lập tức thành tâm điểm cuốn hút lễ hội dồn về chiêm ngưỡng. Cụ nào 90 hay 100 tuổi gọi là Đại thọ, thì con cháu đóng kiệu sơn đỏ hoặc vàng đưa cụ ngồi lên rước. Các cụ Đại thọ được trang điểm, mặc lễ phục ngồi kiệu trông chẳng khác gì đức vua và thái hậu. Con cháu và công chúng đi xem hội chen nhau đón phía trước mong được cúi lạy, dâng quà, mong được lộc thọ. Các đám rước nối nhau thành dòng sông người tràn trề màu sắc chảy dọc đường như một “cacnavan đường làng” vô cùng náo nức, tươi vui…

Sau lễ rước, các cụ kế bước vào Miếu đường bái lạy Tiên Công. Các ông văn trịnh trọng đọc bài văn tế tạ ơn công đức 17 vị Tiên Công, cầu cho “nhân khang vật thịnh”, ruộng đồng “phong đăng hoả cốc”, “Quốc thái dân an”. Phần lễ qua hết nửa buổi sáng. Phần hội tiếp theo. Lệ cổ có trò đánh vật mở đầu: bầu hai Cụ Thượng còn khoẻ mạnh đánh vật tượng trưng, rồi mỗi cụ vác một hòn đất đã xẻ sẵn đắp vào nền Miếu (thể hiện truyền thống đắp đê lấn biển). Từ ngày đó các làng xã mới được động thổ, đào móng làm nhà, ra quân làm thuỷ lợi… Nay trò này đã được khôi phục trong Lễ hội. Hội diễn ra nhiều trò chơi như đu xuân, đánh vật, chọi gà, cờ người, chơi Tổ tôm điếm, hát đúm, kéo co, bóng chuyền, thể dục dưỡng sinh… Từng tốp con trai con gái bịn rịn, chỉ muốn hội kéo dài.

Truy ơn công đức người xưa khai cương lập ấp, Lễ hội Tiên Công chính là “Lễ hội Rước Người” đề cao tinh thần kính trọng tuổi già, “kính lão đắc thọ”. Theo quan niệm đã thành tiềm thức và phong tục của cư dân Hà Nam: đây là một “Thiên tước”, một chức trọng do Trời ban cho, nhưng không dễ ai cũng được nhận phúc lớn. Rước Người tuổi hạc lên tạ ơn Trời Đất, Tổ tiên, nhưng cũng chính là như nói như hãnh diện trước họ hàng, làng tổng rằng dòng họ tôi, gia đình tôi đã được phúc ấm!… Tuổi vàng 80 thực sự là một “kỳ thi” khó vượt, một quả hạnh của những gia đình nào có được “ngôi sao chiếu thọ”. Không ít cụ ở quê nhà hoặc ở nơi xa nóng lòng chờ đầu năm mới, đến ngày mồng 7 tháng Giêng; nhưng bất ngờ tạ thế trong hoặc trước ngày mồng 6, coi như “trượt kỳ thi”! Con cháu vô cùng hụt hẫng, tiếc nuối! Tuổi 80 thực sự là một đích lớn ở cuộc đời mỗi con người vùng đất này khát vọng vươn lên cùng cộng đồng phấn đấu bằng lao động, bằng trí tuệ, bằng lòng ăn ở đạo đức nghĩa nhân.

Vào các gia đình, thấy trong gian thờ treo bức đại tự cổ và những bức còn tươi màu, trình bày nào “Tân Xuân Khánh Thọ”, “Phúc Lộc Thọ”, rồi ”Thọ Kiện Minh”… hoặc bức biểu tượng chữ Thọ hay bức tranh lớn vẽ cụ già râu tóc bạc phơ như một tiên ông chống cây gậy trúc tạc đầu rồng giữa bầy cháu thơ dâng quả đào tiên… Chắc chắn là các gia đình đó đã từng có Cụ Thượng.

Đấy chính là khát vọng của người dân Hà Nam được thoả nguyện! Là dấu ấn “Thiên tước”, là tấm “Huân chương của Trời” đã ban cho. Nó là kết quả một đời người, một đỉnh cao của lòng hiếu thảo và cũng là giá trị trường tồn của phong tục, của văn hoá vùng đất Hà Nam kế thừa văn hiến Thăng Long-Hà Nội bên sông Bạch Đằng lịch sử và vịnh Hạ Long di sản thế giới!

Bút ký: Dương Phượng Toại