Cách đây hơn 700 năm trước, cả Châu Á, Châu Âu đang khiếp đảm, kinh hoàng trước vó ngựa của giặc Mông Cổ, chúng viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác, từ Thái Bình Dương đến tận bờ biển Địa Trung Hải. Vó ngựa của chúng đi đến đâu, cỏ không mọc được đến đó, vậy mà lũ giặc ấy đã phải kinh hồn lạc phách trước quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy tài tình của thiên tài quân sự Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Công lao to lớn của Ngài, ba lần chỉ huy quân dân Đại Việt đánh tan mộng xâm lăng của đế quốc Nguyên - Mông hung bạo, làm cho chúng thất điên bát đảo. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn về Bắc mới thoát chết…

Theo Ngọc phả ở Đình Đền Công, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn sinh ngày mồng 10 tháng 12 năm Mậu Tý 1228, nguyên quán ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là con của An Sinh Vương Trần Liễu và Bà Nguyệt, là em của Vũ Thành Vương Trần Doãn và là anh của Thiên Cam Hoàng Hậu vợ vua Trần Thánh Tông. Ông vốn thông minh hơn người, dung mạo tuấn kiệt, đọc nhiều hiểu rộng, đủ tài văn võ. Về văn, Quốc Tuấn thấu hiểu mọi kinh nghĩa, văn thơ kim cổ. Thông tuệ binh pháp Tôn Tử và Ngô Khởi, ông đã soạn Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược hay còn goị là Binh Thư Yếu Lược. Ngoài ra ông còn sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát Quái Cửu Cung Đồ, đặt tên là Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư để dạy các tỳ tướng, huấn luyện quân sỹ. Ông còn giáo dục quân sỹ và muôn dân bằng cách dùng văn mà nổi tiếng là bài Hịch Tướng Sĩ.

Về võ, ông là nhà chiến lược, chiến thuật, quân sự tài ba, tư tưởng của ông: “Nước Đại Việt ta nhỏ và yếu hơn nước Đại Nguyên của Mông Cổ, vì vậy ta phải lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh; khi quân giặc mới đến, thế chúng còn mạnh, thì ta phải rút lui để bảo toàn lực lượng, nhử cho chúng vào sâu và dàn mỏng lực lượng ra nhiều nơi, chờ khi nào có điều kiện thuận lợi mới phản công; khi ta rút lui cũng phải chủ động khiến giặc muốn đánh mà không đánh được. Với chiến thuật vườn không nhà trống, với chiến tranh nhân dân, giặc không thể cướp được lương thực của nhân dân và luôn bị quân du kích đánh phá quấy rối, cắt đường tiếp tế. Tinh thần giặc tất giảm sút. Lúc ấy ta mới phản công, cắt đường liên lạc tiếp tế của giặc. Phục kích, tập kích, vận động thần tốc đánh vào căn cứ quan trọng của giặc, buộc chúng phải rút lui về nước, ta phục kích tiêu diệt chúng. Ông còn chủ trương khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong sự nghiệp hiển hách ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông ở thế kỷ 13, Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn có vai trò đặc biệt quan trọng. Ngài là một nhà chính trị - quân sự đại tài, được vua Trần tin yêu, giao quyền Tiết chế, thống suất cả vương hầu, tông thất, tướng lĩnh, điều động binh nhung, khí giới. Khi quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ nhất (1258), Ngài được cử chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thủy bộ bảo vệ vùng biên giới Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Ngài được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân đánh giặc. Ðặc biệt, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), khi sự mất còn của nền độc lập nước nhà chỉ còn trong gang tấc, quân xâm lược đã chiếm được nhiều địa bàn trọng yếu, trong đó có cả Kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường, nội bộ quý tộc và quan lại triều Trần đã có người nao núng, hàng giặc, Trần Quốc Tuấn vẫn hiên ngang bất khuất, giữ vững lòng tin son sắt vào thắng lợi. Câu nói bất hủ của Ngài: "Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã", đã nêu một tấm gương lớn về tinh thần quyết chiến và ý chí "Sát Thát" trước triều đình, trước toàn quân và toàn dân ta. Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở sự nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa. Ngài lấy chủ trương: "Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước".
                                                         
Trần Hưng Đạo coi việc kết hợp đoàn kết trong nội bộ là một nhân tố quan trọng để tạo nên sức mạnh của dân tộc, nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết ấy mà đánh thắng quân Nguyên - Mông đó là cái tài giỏi của người cầm quân, người lãnh đạo, người chủ tướng "biết người, biết ta trăm trận trăm thắng". Câu trả lời của ông với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn" khi quân Nguyên tiến công xâm lược lần thứ ba (1288), điều đó đã chứng tỏ vị chủ tướng đã biết phân tích kỹ tình hình, hiểu rõ địch, biết rõ ta và làm chủ được quy luật của chiến trận.

 Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 thể hiện được tài thao lược và nghệ thuật quân sự của người chủ Tướng Trần Hưng Đạo. Bao hàm trong đó là sự vận dụng và kết hợp tài tình giữa quân đội và nhân dân mà đỉnh cao là nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong đó vai trò của nhân dân và dân tộc được gắn kết làm một dưới tài thao lược và dùng binh của Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn. Từ những phương pháp dùng binh, phương pháp huấn luyện quân binh, tư tưởng chính trị - quân sự luôn dựa vào dân, lấy dân làm gốc, khoan thư sức cho dân để xây dựng nên khối đại đoàn kết trong hoàng tộc và triều đình, trong toàn quân và cả nước. Ông luôn nêu tấm gương sáng về lòng trung nghĩa, trung quân, ái quốc, gạt bỏ mọi hiềm khích riêng tư để đoàn kết tôn thất trong triều đình, trong quân đội và trong nhân dân. Biết trọng dùng hiền tài, tướng giỏi giúp nước, Quốc công Tiết chế Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn đã để lại cho dân tộc ta và cho các thế hệ con cháu đời sau những tư tưởng chính trị, quân sự tiến bộ, khoa học làm nền tảng cho sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ở phủ đệ riêng ở Vạn Kiếp, được vua phong tặng Thái sứ Thượng phụ Thượng quốc công Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương. Nhân dân ta lập đền thờ ở nhiều nơi để tưởng nhớ công lao to lớn của Hưng Ðạo Ðại Vương và suy tôn Ngài là Ðức Thánh. Và cũng tại nơi xẩy ra chiến trận Bạch Đằng 1288, trên doi đất cổ nằm ở giữa sông Bạch Đằng, nơi trung tâm diễn ra trận thuỷ chiến Bạch Đằng năm 1288 nay thuộc địa phận xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, nhân dân cũng lập đền thờ Ông phối thờ cùng hai người con gái. Đây là nơi lưu niệm vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn ngay trên mảnh đất diễn ra chiến công hiển hách nhất của Ngài.

Năm nay là năm Mậu Tý 2008, tròn 780 năm ngày sinh đức Thánh Trần Hưng Đạo nhân dân Yên Hưng và nhân dân làng Yên Giang sẽ tổ chức trọng thể lễ hội kỷ niệm 720 năm Chiến thắng Bạch Đằng để tưởng nhớ công lao to lớn của người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và các trò chơi dân gian, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần thượng võ, niềm tự hào dân tộc và nêu cao tinh thần đoàn kết trong cộng đồng, nhân dân để xây dựng và phát triển quê hương./.

                                                                                                                                                      TG. Ngô ĐÌnh Dũng