Giới thiệu

Thị xã Quảng Yên - Tiềm năng và phát triển

I/ Điều kiện tự nhiên và tài nguyên:

 1. Vị trí địa lý – Kinh tế

            Quảng Yên là thị xã ven biển nằm ở Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 31.4km2 và dân số năm 2015 là 137.422 người.  Thị xã Quảng Yên có 19 đơn vị hành chính gồm 11 phường, 8 xã v thị trấn và 18 xã. Thị xã Quảng Yên nằm giữa tam giác 3 thành phố và thị xã, cách thành phố Hạ Long 40 km về phía Tây Nam, cách thành phố Uông Bí 18 km về phía Đông Nam và cách thành phố cảng Hải Phòng khoảng 20 km về phía Đông. 
Vị trí tọa độ:

            - 20 độ 45’ 06’’    -    21 độ 02’ 09’’ độ vĩ Bắc.

            - 106 độ 45’ 30’’  -   106 độ 0’ 59’’ độ  kinh Đông.

Ranh giới:

            -  Phía Bắc giáp thị xã Uông Bí và huyện Hoành Bồ

            -  Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu.

- Phía Đông giáp thành phố Hạ Long và vịnh Hạ Long.

- Phía Tây giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 

Thị xã Quảng Yên có 02 trục đường quốc lộ đi qua là: trục đường 18A và trục đường 10, trục đường quốc lộ 18A dài 08km, trục đường 10 dài 14km (từ Biểu Nghi đến Phà Rừng).

                Thị xã Quảng Yên có hệ thống đường thủy giao lưu với nhiều trung tâm vùng.

Thị xã Quảng Yên có vị trí và vai trò rất quan trọng về phát triển kinh tế, giao lưu thương mại và an ninh quốc phòng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và của tỉnh Quảng Ninh.

Đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thị xã Quảng Yên năm trong giải hành lang ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng do đó là một cửa mở ra biển để giao lưu thương mại quốc tế, là một phần của trục kinh tế động lực Hạ Long – Hải Phòng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là một vị trí cửa ngõ để bảo vệ an ninh quốc phòng trên bộ và trên biển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.



 

2. Nguồn nhân lực:

- Dân số: Dân số của thị xã Quảng Yên khá trẻ nên tốc độ tăng dân số tự nhiên khá nhanh, bình quân tăng 1,1%/năm trong giai đoạn 2010 – 2014 (năm 2013=136.699 người, năm 2014 = 137.222 người, năm 2015 = 137.432 người.

            Tỷ lệ nam 69.758 người, nữ 67.464 người. thành thị 82.239 người, nông thôn 54.983 người. tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%

- Nguồn nhân lực: Dân số trong độ tuổi lao động ở thị xã Quảng Yên tính đến năm 2014 có 80259 người chiếm 58,5% dân số. Lao động đang tham gia hoạt động kinh tế có 75.816 người, trong đó lao động nông lâm nghiệp và thuỷ sản là 53.900 người, chiếm 76,9%; lao động trong các ngành công nghiệp - xây dựng có 7.144 người, chiếm 10,8%; lao động trong các ngành dịch vụ có 8.652 người, chiếm 12,3%.  Tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ chỉ chiếm 18 - 19% số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế.

3. Địa hình và tài nguyên đất.

         - Địa hình: Thị xã Quảng Yên có địa hình rất đa dạng, phí Bắc là vùng đồi núi thập chạy dần về phía Nam đan xen với hệ thống sông lạch. Sông Chanh là một nhánh lớn của sông Bạch Đằng chia thị xã Quảng Yên thành 02 vùng rõ rệt:

            + Vùng Hà Bắc: Địa hình đồi núi thấp có 11 đơn vị hành chính: gồm 7 phường và 04 xã với diện tích tự nhiên 188,3km2 chiếm tỷ trọng 60% diện tích tự nhiên của thị xã, dân số trung bình năm 2015 khoảng 80.550 người, mật độ bình quân 454 người/km2. Gồm các phường, xã: Cộng Hòa, Quảng Yên, Đông Mai, Minh Thành, Sông Khoai, Hiệp Hòa, Yên Giang, Tiền An, Hà An, Tân An, Hoàng Tân. Đất đai vùng Hà Bắc chủ yếu là đất dốc, núi, gò, gồi, ruộng bậc thang xen kẽ có các dải đồng bằng nhỏ hẹp, riêng các xã Sông Khoai, Hà An là những vùng đất mới khai phát do lấn biể lên địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều ao hồ nuôi trồng thủy sản.

            + Vùng Hà Nam: Được bao bọc bởi hệ thống đên biển dài 34km, cao trình 5,5m bao gồm 8 đơn vị hành chính: gồm 4 phường, 4 xã: Nam Hòa, Yên Hải, Cẩm La, Phong Cốc, Phong Hải, Liên Hòa, Liên Vị, Tiền Phong. Tổng diện tích tự nhiên 125,9km2, chiếm tỷ trọng 40% diện tích tự nhiên của thị xã, dân số trung bình năm 2015 khoảng 56.756 người, mật độ dân số khoảng 451 người/km2. Đây là vùng lòng chảo thấp hơn so với mặt nước biển (mặt nước thủy triều).

            - Tài nguyên đất: thị xã Quảng Yên có diện tích tự nhiện là 31.919,34 km2, chiếm 5,3% diện tích toàn Tỉnh. Đất đai vùng phía nam phần lớn được tạo thành bởi phù sa bồi (sông, biển) pha hỗn hợp với trầm tích biển và chịu ảnh hưởng của biển với mức độ khác nhau. Vùng phía Bắc nằm trong khu vực chuyển tiếp của vùng núi Đông Bắc nên mang tính chất của nhóm đất đồi núi. Theo đặc tính phân loại, Yên Hưng có các nhóm đất chính sau:

            Đất đồi núi có diện tích 6100 ha chiếm 18,3% diện tích, phân bố ở khu vực phía Bắc huyện tập trung ở các xã Minh Thành, Đông Mai và một phần ở  các xã Sông Khoai, Cộng Hòa, Tân An, Tiền An, Hoàng Tân. Đất bao gồm chủ yếu là các loại đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit và đất feralit nâu vàng, xám vàng  trên các đá trầm tích phiến thạch, sa thạch, đá vôi. Đất có tầng dày trung bình 60 - 80 cm, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, độ PH từ 4 - 4,5; hiện chủ yếu là đất rừng và đất trồng cây ăn quả.

            Đất đồng bằng có diện tích gần 13.528 ha chiếm 44% diện tích đất đai, gồm chủ yếu là đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện nhưng tập trung ở khu vực Hà Nam. Đất có thành phần cơ giới trung bình đến nặng, độ PH dưới 4, 5 hàm lượng mùn trung bình. Một số điểm nội đồng đất trũng bị ngập nước mùa mưa nên glây mạnh, đất chua hàm lượng mùn thấp. Hiện đất được sử dụng chủ yếu để trồng cây lương thực thực phẩm, trồng lúa hai vụ cho năng suất khá cao.

            Đất bãi bồi cửa sông, ven biển gồm các loại đất mặn và đất cát có diện tích gần 12.300 ha chiếm 37,1% diện tích, phân bố ở các khu vực ven biển và cửa sông, tập trung nhiều các khu đầm Nhà Mạc, đầm Soài, Cái Tráp, Yên Giang. Phần lớn đất đang được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, phần còn lại là đất rừng ngập mặn sú, vẹt và đất hoang hóa.

            Đặc điểm địa hình và đất đai của một đồng bằng cửa sông ven biển tạo cho Quảng Yên có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

 

4. Điều kiện khí hậu và thời tiết.

            Thị xã Quảng Yên có đặc trưng khí hậu của vùng ven biển Miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh. Phân 02 mùa rõ rệt:  mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô.

            Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 – 24 oC, biên độ nhiệt theo mùa trung bình 6 - 7C, biên độ nhiệt ngày - đêm khá lớn, trung bình 9 – 11 oC. Số giờ nắng khá dồi dào, trung bình 1600 - 1700 h/năm, số ngày nắng tập trung nhiều vào tháng 5 đến tháng 12, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 2, tháng 3.

            Lượng mưa trung bình hàng năm gần 2000 mm, cao nhất có thể lên đến 2600 mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa trung bình hàng năm 160 - 170 ngày. Độ ẩm không khí hàng năm khá cao, trung bình 81%, cao nhất vào tháng 3, 4 lên tới 86%, và thấp nhất 70% vào tháng 10, tháng 11.

            Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 trung bình 28 - 290C, cao nhất có thể lên đến 380C, gió Nam và Đông Nam thổi mạnh tốc độ trung bình 2 -  4m/s gây mưa nhiều, độ ẩm lớn.

Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4  năm sau, gió mùa Đông Bắc thổi nhiều đợt và mạnh, mỗi đợt 4 - 6 ngày, tốc độ gió lên đến cấp 5 - 6, ngoài khơi có thể lên tới cấp 7 - 8 làm thời tiết lạnh, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, tháng 12 có thể xuống tới 50C.

            Nhìn chung chế độ khí hậu và thời tiết ở thị xã Quảng Yên có đặc điểm chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam nhưng do nằm ven biển nên ôn hoà hơn, thuận lợi cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp và phát triển du lịch. Thời tiết mùa đông lạnh gây ảnh hưởng phần nào đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt nhưng cũng tạo điều kiện cho sản xuất vụ đông, đa dạng hoá sản phẩm.


5. Điều kiện thuỷ văn và tài nguyên nước.

          Mạng lưới dòng chảy mặt ở Quảng Yên khá dày hầu hết chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biển qua các cửa sông, thuận lợi cho phát triển vận tải đường thuỷ và khai thác, nuôi trồng thủy sản, nhưng ít phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp do nước bị nhiễm mặn.

        Quan trọng nhất là dòng chính của sông Bạch Đằng chảy ở phía Tây ngăn cách Quảng Yên với Hải Phòng và các chi lưu chảy vào huyện là sông Chanh, sông Nam, các sông này đều đổ ra biển ở khu cửa Nam Triệu - Lạch Huyện. Phần phía Đông thị xã còn có một số sông nhỏ khác như sông Hốt, sông Bến Giang và sông Bình Hương nhưng các sông này đều ngắn, diện tích lưu vực nhỏ, chủ yếu trong phạm vi thị xã.

       Nguồn nước ngầm khá phong phú, mạch nước ngầm thường nằm ở độ sâu 5 - 6 mét, khu vực Hà Nam và ven biển nước bị nhiễm mặn ít sử dụng được, khu vực Hà Bắc nước ngọt đủ để khai thác sử dụng cho sinh hoạt.

       Thuận lợi lớn nhất về nguồn nước của thị xã là có hồ Yên Lập, là hồ thuỷ lợi lớn của tỉnh có dung tích thường xuyên 127,5 triệu m3, dung tích hữu ích 113, 2 triệu m3 với kênh chính dẫn nước cho huyện dài 28,4 km.  Nguồn cấp nước từ hồ Yên Lập dồi dào và hiện là nguồn nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong thị xã.

6. Điều kiện bờ biển và tiềm năng xây dựng cảng biển.

            Bờ biển của Quảng Yên có đặc điểm địa mạo tích tụ sông - biển, có nhiều cửa sông, đáy biển kiểu delta nông, nhiều bồi tích bở rời, độ nghiêng nhỏ, trong đó có một số lạch sâu là các lòng sông cũ. Vịnh tương đối kín sóng gió do được che chắn bởi một số đảo nhỏ nên có nhiều thuận lợi cho tàu thuyền qua lại và trú đậu.

            Đặc biệt khu vực cửa Nam Triệu, trong đó có khu Lạch Huyện nằm ngoài cửa sông Bạch Đằng, có độ mở ra vịnh lớn và thông thoáng; luồng lạch sâu và ít bị bồi tích hơn bên trong khu vực cảng Hải Phòng hiện nay; mực nước sâu bình quân 6 mét, sâu nhất đến 10 mét; sóng nhỏ dưới 1 mét, luồng lạch rộng đáp ứng được yêu cầu vào - ra của các tàu có trọng tải lớn trên 30.000 DWT. Mặt bằng không gian rộng rãi với diện tích hàng nghìn ha, thuận tiện cho xây dựng cảng bến bãi, kho hàng và các khu công nghiệp, dịch vụ.  Đây là khu vực có tiềm năng lợi thế rất lớn của Quảng Yên để xây dựng cảng nước sâu kết hợp với phát triển KCN, KCX và hình thành khu kinh tế tổng hợp của huyện cũng như của cả tỉnh.

7. Điều kiện nuôi trồng và khai thác thủy sản.

          Thị xã Quảng Yên có bờ biển chạy dài hơn 30 km với nhiều cửa sông và bãi triều; vùng biển nằm trong vịnh kín là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao, tạo cho Quảng Yên có nguồn lợi thủy sản phong phú cả thuỷ sản nước mặn và thuỷ sản nước lợ. Khả năng khai thác thuỷ sản các loại có thể đạt hơn 10 nghìn tấn /năm, trong đó riêng vùng triều có thể khai thác được 3.000 tấn. Ngoài ra Quảng Yên còn có điều kiện vươn ra để khai thác ở các ngư trường thuộc Vịnh Bắc Bộ như Cô Tô, Bạch Long Vĩ... là những ngư trường lớn, với khả năng khai thác từ 40.000 - 50.000 tấn /năm.

      Diện tích bãi triều, đầm phá  rộng lớn trên 12.000 ha tập trung ở khu vực cửa sông Bạch Đằng như Đầm Nhà Mạc, Cái Tráp, Đầm Soài và các khu vực Hà An, Hoàng Tân,... tạo điều kiện rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản hình thành các khu vực tập trung, hiện nay mới khai thác gần 8 nghìn ha nhưng chủ yếu ở dạng quảng canh nên tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp còn rất lớn.

8. Tài nguyên khoáng sản.

            Khoáng sản trên địa bàn Quảng Yên nhỏ cả về chủng loại và trữ lượng, nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế. Tập trung chủ yếu là một số khoáng sản ngành vật liệu xây dựng, đó là:

           - Đá vôi: Phân bố chủ yếu trên đảo Hoàng Tân trữ lượng trên 1 triệu m3, hiện đang được khai thác với quy mô 50 - 60 nghìn m3 /năm, tuy nhiên việc khai thác đá vôi ở đây cần quản lý tốt để bảo vệ môi trường cảnh quan cho phát triển du lịch.

           - Đất sét. Khoáng sản quan trọng nhất của huyện là nguồn đất sét làm vật liệu xây dựng như gạch, ngói. Đất sét được phân bố rộng rãi ở núi Na Sông Khoai, Minh Thành, Đông Mai, Tiền An, Cộng Hòa tổng trữ lượng khoảng hàng  triệu m3, có thể khai thác để phục vụ sản xuất xi măng, sản xuất gạch ngói phục vụ nhu cầu tại chỗ.

           - Cát, sỏi xây dựng: Phân bố rải rác ven các sông trong huyện, trữ lượng khoảng vài triệu m3, chất lượng khá tốt chịu được áp lực cao, hiện đang được khai thác cho xây dựng tại chỗ.

           - Than đá: Có một vỉa nhỏ nằm ở khu vực Đá Chồng, phường Minh Thành với trữ lượng khoảng 20 - 30 vạn tấn, trước đây đã được nhân dân khai thác thủ công để làm chất đốt cho sản xuất và sinh hoạt tại chỗ.

Ngoài ra tại khu vực Minh Thành còn có mỏ cát xây dựng với trữ lượng khá lớn (hàng triệu m3), trữ lượng tốt, cường độ chịu lực cao có thể khai thác đáp ứng một phần nhu cầu xây dựng ở địa phương.

9. Tài nguyên rừng

            Rừng ở Quảng Yên chiếm diện tích không lớn, phân bố tập trung ở khu vực đồi núi cao phía Bắc giáp Hoành Bồ nhưng có vai trò quan trọng đến phát triển kinh tế của thị xã, đặc biệt là trong bảo vệ nguồn nước hồ Yên Lập, chống xói mòn và sa mạc hoá đất ven biển, tạo cảnh quan sinh thái đa dạng phục vụ cho phát triển du lịch.

            Diện tích rừng hiện có 6300 ha, chiếm 18,7% diện tích toàn huyện, trong đó rừng tự nhiên có 2.800 ha phần lớn là rừng thứ sinh với mục đích phòng hộ. Rừng trồng có 3.500 ha bao gồm 2.700 ha rừng sản xuất phân bố chủ yếu ở các xã Minh Thành, Đông Mai, Sông Khoai, Cộng Hòa, Tiền An, Hoàng Tân và 800 ha rừng phòng hộ ven biển.

10. Tài nguyên du lịch.

            Thị xã Quảng Yên có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, có điều kiện để phát triển du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng gắn với các trung tâm du lịch lớn ở Quảng Ninh, Hải Phòng và Cát Bà.

       * Về tài nguyên du lịch nhân văn: Quảng Yên là vùng đất đậm đặc các di tích lịch sử, truyền thống văn hoá vật thể và phi vật thể trong đó có hàng chục di tích lịch sử, văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng. Trên địa bàn thị xã có 186 di tích lịch sử, văn hoá các loại với mật độ bình quân gần 1 di tích /km2, đặc biệt nhất là khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt – Di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng. Ngoài ra ở Quảng Yên còn có nhiều lễ hội truyền thống như: Lễ hội Tiên Công, Lễ hội Bạch Đằng, lễ hội xuống đồng, lễ hội cầu ngư..., phong tục tập quán lao động, sinh hoạt hội hè của dân cư vùng châu thổ sông Hồng đi khai phá đất mới, nếu được phục hồi, phát huy và tổ chức tốt sẽ đem lại lợi ích to lớn không những có ý nghĩa du lịch mà còn có ý nghĩa giáo dục, quảng bá truyền thống văn hoá lịch sử của địa phương và dân tộc.

          * Về tài nguyên du lịch tự nhiên: Thị xã Quảng Yên được thiên nhiên ưu đãi có điều kiện cảnh quan sinh thái đa dạng bao gồm đầy đủ các cảnh quan sinh thái núi rừng, bờ biển và biển đảo, trong đó có những nơi có thể xây dựng thành các điểm du lịch sinh thái, câu cá, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế như đảo Hoàng Tân, đầm Nhà Mạc, đầm Soài, thác Mơ, rừng thông Bác Hồ và khu hồ Yên Lập.

          Bên cạnh đó, với vị trí liền kề Quảng Yên có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch kết hợp với các địa điểm du lịch nổi tiếng trong cả nước như vịnh Hạ Long, khu du lịch Tuần Châu, đảo Cát Bà và kết nối với cả tuyến du lịch ven biển của tỉnh Quảng Ninh để thu hút du khách. Với nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và xu thế phát triển du lịch của các vùng phụ cận, nếu được tổ chức khai thác hợp lý kết hợp với xây dựng hạ tầng du lịch tốt, Quảng Yên có cơ hội trở thành một điểm du lịch hấp dẫn trong tuyến du lịch Quảng Ninh - Hải Phòng - Cát Bà, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng.


Video Clip

Quảng bá doanh nghiệp