Mỗi làng xã, mỗi dòng họ, mỗi dấu tích lịch sử thường được nhân dân dựng bia để ghi lại. Tuy nhiên, do địa hình bằng phẳng, ẩm thấp, ít có núi đá, một số vùng trước đây thấp hơn mực nước triều từ 3m - 3,5 mét nên việc bảo tồn, gìn giữ các bia đá gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Những bia đá hiện còn và những bản rập văn bia hiện đang được lưu giữ tại Viện Hán Nôm (Hà Nội) và tại Bảo tàng Bạch Đằng (Yên Hưng) là những tài liệu quý giá, góp phần nghiên cứu nhiều mặt vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử, văn hoá này.

Về số lượng và sự phân bố văn bia: Theo số liệu và bản rập văn bia qua đợt điều tra của chúng tôi với Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 2001, thống kê được 144 bia đá, in và rập được 500 bản rập văn bia (một số bia khắc trên 3 đến 4 mặt nên số bản rập nhiều hơn số bia), được phân bố ở 19 xã, thị trấn trên địa bàn huyện, tập trung chủ yếu là khu vực Hà Nam. Điều đó cho thấy số lượng văn bia của Yên Hưng là khá phong phú, đây là điều rất thuận lợi cho việc bảo tồn, nghiên cứu các giá trị văn hoá, lịch sử của văn bia...

Về niên đại, loại hình và giá trị sử liệu, văn bia ở Yên Hưng có niên đại chủ yếu từ thế kỷ XV trở về sau, thuộc triều Lê, Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn; phân bố chủ yếu ở các di tích như: Chùa Giữa Đồng (Nam Hoà) có 7 bia, trong đó 1 bia được dựng năm Hồng Ninh thứ 2 (1592) niên hiệu nhà Mạc; bia thời Lê ở Đình Hải Yến (Yên Hải) ‘’Lập Thiên Trụ Bi’’ dựng năm Chính Hoà 29 (1708); bia Miếu Tiên Công thôn Trung Bản (Liên Hoà) niên hiệu thời Lê, năm Hồng Đức thứ 2 (1471); bia Đình Trung Bản (Liên Hoà) ‘’Hậu thần bi ký’’, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1793); bia Chùa Linh Ngai (Liên Vị) ‘’Linh Ngai Tự Bi Ký’’, dựng năm Hưng Trị thứ 2 (1590) thuộc triều đại nhà Mạc... Văn bia ở đây chủ yếu gắn với các di tích tín ngưỡng, làng xã, trong đó phần lớn là chùa chiền, số khác là bia đình làng, đền, miếu, ngoài ra là một số văn bia ở các từ đường dòng họ.

Về các chùa chiền, tư liệu văn bia cho thấy nơi đây chủ yếu phổ biến hệ thống chùa tháp của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Theo bia ký chùa Vạn Triều, thôn Yên Lập (Minh Thành), niên đại Vĩnh Thịnh Nguyên Niên (1750) thời Lê, thì ngôi chùa này rất cổ kính mộc mạc, sản vật chủ yếu là cam, quýt, phong cảnh khá đẹp. Chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI (1450 - 1550) nằm trong hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chùa có tên chữ là ‘’Hoa Khai Sơn Vạn Triều Tự”, tên thường gọi là chùa Vạn Triều. Nằm ở trên núi Hoa Khai (Hoa nở); vị trí của chùa là nhụy của bông hoa cúc nở, hai bên nhiều ngọn núi uốn cong chầu vào như những cánh hoa cúc, nhìn ra phía trước thấy muôn ngọn nước triều chầu vào nên đặt tên chùa là Vạn Triều. Trong các văn bia thời Lê, nhắc đến các chùa chiền, còn văn bia chùa Linh Ngai (Liên Vị) theo ‘’Linh Ngai tự bi ký’’ dựng năm Hưng Trị thứ 2 năm (1590), chùa được toạ lạc trên mảnh đất ‘’Linh Ngai’’, bốn phía xung quanh là ruộng Phật. Xưa kia cổ nhân đã dựng chùa cấy ruộng ở đây bởi nhìn thấy trước mặt có khu đất lâu đài trúc mọc tốt tươi như đường dẫn tới ‘’Bát Nhã”...

Ngoài văn bia ở các chùa còn một số văn bia ghi lại việc phát triển dân số, bảo vệ đê điều, việc phân bổ ruộng đất cho các xã, các thôn cũng gắn liền với việc giao nhận đê và giao số người cụ thể để bảo vệ đê điều, như văn bia ‘’Lập Thiên Trụ Bi’’ ở Đình Hải Yến dựng năm Chính Hoà thứ 29 (1708); bia Miếu Tiên Công thôn Trung Bản (Liên Hoà) thời Lê năm Hồng Đức thứ 2 (1471); tất cả đều nói về việc chia ruộng đất đi khai hoang, lấn biển, xây dựng vùng kinh tế mới của Triều đình nhà Lê cho các ông Hoàng Kim Bảng, Đồng Đức Hấn, Đỗ Độ, Đào Bá Lệ, Hoàng Nông, Hoàng Nênh (sau này được tôn vinh là các Tiên Công của làng xã); ngoài ra rải rác trong các văn bia, gia phả cũng thấy ghi lại các lần đắp đê, vỡ đê, phụ đê v.v.. ở Hà Nam. Các tư liệu này giúp cho con cháu đời sau thấy được công lao của tổ tiên, thấy được trách nhiệm của mình trong việc đấu tranh với thiên nhiên bảo vệ đê điều...

Về đình làng, số lượng văn bia khá phong phú cho biết niên đại xây dựng đình làng ở Yên Hưng chủ yếu là thời Nguyễn và bia ghi lại công đức của những người đóng góp xây dựng đình. Trong đó thể hiện rất rõ giá trị lịch sử khoa học nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc đình làng ở Việt Nam đang thời kỳ phát triển rực rỡ. Cùng với văn bia ghi những người có công đức dựng đình, quy mô và lịch sử đình làng là những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng thờ thần hoàng làng, sự tích thần làng, cũng như tục thờ hậu thần ở đình và các hình thức sinh hoạt tế, lễ, hội hè ở làng xã.

Loại văn bia ghi lại sự tích nhân vật cũng hết sức quý giá, cho biết lai lịch một số quan lại, nhân vật lịch sử mà các tài liệu chính sử không ghi chép được. Bia Văn miếu Quốc Tử Giám Yên Hưng khắc năm Minh Mạng 1820 cho biết nơi đây đã từng là một trong những trường thi lớn ở Bắc Kỳ thời Nguyễn. Khoa thi năm Gia Long thứ 2 (1803), Yên Hưng có hai người đỗ hương cống là Nguyễn Huy Khuê và Bùi Huy Ngọ...

Văn bia Yên Hưng là tập hợp những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể bao hàm trong đó là những nguồn sử liệu quý giá, nó cho biết lịch sử hình thành làng xã, những chính sách di dân, khẩn hoang lấn biển, chia ruộng đất để xây dựng làng xã Yên Hưng. Với những giá trị sử liệu quý giá đó chúng ta có thể tập hợp thành bộ sưu tập đầy đủ trên cơ sở các bản rập văn bia nhằm giúp cho việc chỉnh lý, biên soạn nội dung và lập các bảng tra cứu để tiện sử dụng, nghiên cứu dịch nghĩa để giới thiệu về văn hoá, con người và vùng đất Yên Hưng.

Nguồn:baoquangninh.com.vn